Diễn đàn Lê Quý Đôn








Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 10 bài ] 

Chiếc xe của thần chết - Selma Lagerlöf

 
Có bài mới 21.04.2017, 16:19
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 29 Nữ
Bài viết: 16330
Được thanks: 4281 lần
Điểm: 9.07
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tập truyện ngắn] Chiếc xe của thần chết - Selma Lagerlöf - Điểm: 10
CON QUỶ CON

Mụ quỷ già dạo chơi trong rừng, gùi đứa con trên lưng trong một chiếc giỏ bằng vỏ cây. Quỷ con trông thật thô kệch và xấu xí. Tóc dựng đứng và cứng như lông lợn rừng, răng nhọn hoắt và đầu ngón tay không có móng mà lại có vuốt. Song quỷ mẹ vẫn thấy nó rất xinh xẻo.

Mụ đi tới một quãng rừng thưa. Tại đây có một con đường bị rễ cây đâm lồi lõm gồ ghề chạy băng qua; và trên đường, một nông dân đang cùng vợ cưỡi ngựa đi tới.

Thoáng thấy họ, mụ quỷ già định lẩn vào rừng sâu, song thấy vợ người nông dân đang bế một đứa trẻ trên tay, mụ liền đổi ý. "Ta rất muốn xem xem con của loài người có xinh xắn bằng con ta không?" Mụ thì thầm như vậy rồi ngồi thụp xuống nấp sau một bụi rậm chờ đợi.

Khi vợ chồng người nông dân đi qua, mụ nghển cổ nhìn đứa trẻ, nhưng hai con ngựa chợt thấy cái đầu to xù gớm ghiếc của mụ, liền lồng lộn chồm lên. Tay bế con, vợ người nông dân suýt ngã ngựa. Ba ta sợ hãi kêu lên, rồi bất giác vươn người nắm lấy dây cương. Lát sau, hai vợ chồng biến mất trên mình ngựa phi nước đại.

Mụ quỷ cái thở phì phò thất vọng vì không thỏa mãn được tính tò mò, cũng chẳng nhìn thấy được đứa trẻ. Nhưng mụ bỗng bình tâm lại: đứa trẻ nằm ngay trên đất, trước mắt mụ. Người mẹ đã đánh rơi con khi ngựa chồm lên. May sao đứa bé rơi xuống một đống cành con và lá khô nên không bị sây sước gì. Nó gào khóc vì quá sợ, nhưng khi mụ vợ lão quỷ cúi xuống, nó rất kinh ngạc và thích thú nên nín bặt, rồi đưa tay kéo bộ râu đen sì của mụ.

Mụ quỷ cái ngây người nhìn đứa trẻ của loài người. Mụ ngắm nghía những ngón tay mảnh mai thanh thoát với những chiếc móng hồng, ngắm đôi mắt xanh trong và cái miệng xinh xinh đỏ thắm. Mụ sờ vào mái tóc mượt như tơ, vuốt đôi má đứa trẻ và mỗi lúc một ngạc nhiên hơn. Chưa bao giờ mụ thấy một em bé trắng trẻo đến thế, hồng hào và thanh tú đến thế.

Bỗng nhiên mụ quỷ giật mình giật cái giỏ trên vai xuống, kéo đứa con của mụ ra và đặt nó cạnh đứa trẻ kia. Nhìn chúng khác nhau một trời một vực, mụ không thể tự chủ được và rú lên. Trong lúc này, vợ chồng người nông dân bắt đầu điều khiển được ngựa, họ quay trở lại tìm con. Mụ quỷ nghe tiếng họ lại gần, nhưng vẫn chưa ngắm thỏa thuê đứa trẻ kháu khỉnh. Cuối cùng, khi đã sắp trông thấy họ, mụ nảy ra một quyết định bất ngờ: để đứa con mụ lại trên mặt đất, bên bờ rãnh, nhấc đứa trẻ xinh xắn đặt vào giỏ, khoác lên lưng rồi lủi mất.

Mụ vừa đi khuất thì hai vợ chồng người nông đân xuất hiện. Họ là những người giàu có, được vị nể, chủ nhân của một trang trại đẹp trong cái thung lũng phì nhiêu nằm dưới chân núi. Họ lấy nhau đã lâu năm mà chỉ sinh được đứa con này, vì thế họ rất đau lòng khi mất con.

Người vợ đi trước và là người đầu tiên nhìn thấy đứa trẻ nằm trên mặt đất đang gào khóc. Lẽ ra nghe tiếng gào dữ tợn không phải của con người này bà phải nhận ra rằng nó không phải con bà. Song tâm trí bà đang rối bời nên bà chẳng còn nhận biết được gì nữa, bà chỉ cảm thấy sung sướng khi thấy con không bị ngã chết.

- Con đây rồi, - bà gọi chồng rồi trườn xuống đất.

Khi ông chồng tới nơi, thấy vợ ngồi bên vệ đường, vẻ ngơ ngác như không tin vào con mắt mình nữa.

"Trước đây răng con tôi đâu có như nanh ác thú thế này, - bà lẩm bẩm. - Tóc con tôi đâu có như lông lợn rừng thế này? - Bà rên rỉ, giọng mỗi lúc một tuyệt vọng hơn. - Trước đây, con tôi đâu có vuốt ở đầu ngón tay.

Ông nông dân tưởng vợ đã hóa điên, vội nhảy xuống ngựa.

- Mình hãy nhìn con đi, rồi nói cho tôi biết nó làm sao thế này. - bà vừa nói vừa đưa đứa trẻ cho chồng. Ông bế nó lên, nhưng vừa cúi nhìn nó, ông liền khạc nhổ liên hồi rồi quẳng nó ra xa.

- Đó là một con quỷ con. - ông kêu lên. - Nó không phải là con chúng ta.

Bà vợ vẫn ngồi bệt dưới đất như bị tê liệt. Bà chậm hiểu và không thể tự giải thích được cái điều vừa xảy ra.

- Mình xử lý thế nào với đứa trẻ này? - Bà hỏi.

- Vậy mình không thấy là một đứa bé được đem đánh tráo sao? Bọn quỷ đã ăn cắp con chúng ta khi ngựa lồng và để lại một con quỷ con.

- Thế con ta bây giờ ở đâu? - Bà rên rỉ.

- Ở chỗ bọn quỷ ấy. - Ông nói chẳng giữ lời.

Cuối cùng người vợ đã hiểu ra rằng nỗi bất hạnh của mình là ghê gớm đến mức nào. Mặt bà tái mét khiến chồng bà tưởng đâu bà sắp tắc thở.

- Chúng chưa thể mang con chúng ta đi xa đây được, - ông nói để trấn tĩnh vợ. - Chúng ta sẽ lùng sục khắp rừng.

Ông buộc ngựa vào gốc cây rồi đi sâu vào trong rừng. Bà vợ đứng dậy định đi theo, nhưng chợt thấy con quỷ con nằm gần chân mấycon ngựa mà ngựa thì đang dậm chân lo lắng vì thấy đứa trẻ. Bà rùng mình ghê sợ khi nghĩ phải chạm tay vào con quỷ con, nhưng rồi bà vẫn nhấc nó ra chỗ khác để ngựa khỏi dẫm phải.

- Kìa, cái lúc lắc con nó cầm khi bà đánh rơi nó, - ông chồng thốt lên. - Thế là mình tìm đúng hướng rồi đấy!

Bà vợ vội chạy tới, rồi hai vợ chồng cùng dấn sâu thêm vào rừng. Nhưng họ không tìm thấy dấu vết gì của con, cũng như của mụ quỷ. Người mẹ đáng thương khóc lóc và vặn vẹo đôi tay. Người cha buồn bã nghiến chặt hai hàm răng, lặng lẽ bước đi không nói một lời nào để an ủi vợ. Ông thuộc một dòng họ khá giả lâu đời, dòng họ này sẽ tuyệt diệt nếu ông không có con trai. Ông oán vợ đã đánh rơi con, nhưng thấy vợ tuyệt vọng, ông không dám trách móc gì.

Ông giúp vợ trèo lên lưng ngựa; người vợ khi đã ngồi vững trên yên mới nhớ tới con quỷ con.

- Bây giờ ta biết làm gì với con quỷ con này? - Bà hỏi chồng.

- Ừ nhỉ. Nó đâu rồi?

- Nó kia kìa, dưới bụi cây ấy.

- Nó nằm đấy là tốt rồi. Nó cứ việc nằm đấy! - Ông đáp rồi cười chua chát.

- Nhưng chúng ta không thể để nó làm mồi cho thú dữ được! Bà phản đối.

- Sao lại không? Cứ để nó đấy! - Ông trả lời cộc lốc và đặt chân vào bàn đạp.

Trong thâm tâm, bà thấy chồng có lý: lo lắng cho con quỷ con này đâu phải việc của vợ chồng bà. Bà bèn thúc ngựa đi theo chồng, nhưng ngựa vừa chạy được vài bước thì bà lại thấy không đành lòng.

- Dù sao nó cũng là một đứa trẻ, - bà nói. - Tôi không thể để nó bị chó sói ăn thịt. Ông cho tôi xin nó được không?

- Không đời nào. Nó nằm đấy là tốt rồi.

- Nếu bây giờ ông không để tôi mang nó theo thì chắc chắn tối nay tôi đành quay lại đây tìm nó, - bà nói giọng tuyệt vọng.

- Có lẽ bọn quỷ bắt trộm được con tôi rồi mà vẫn chưa thỏa mãn, cho nên chúng còn làm cho vợ tôi đâm điên đâm dại ra nữa, - ông rên rỉ. Tuy vậy, ông vẫn quay lại và tìm con quỷ con rồi trao nó cho vợ, vì ông rất yêu và đã quen nhượng bà trong mọi việc.

Ngày hôm sau, câu chuyện bất hạnh đã lan truyền khắp vùng. Những người giàu kinh nghiệm và khôn ngoan đến nhà vợ chồng người nông dân để khuyên nhủ và báo trước những điều có thể xảy ra. Một bà cụ khuyên:

- Người nào chẳng may bị quỷ đánh tráo con thì phải lấy một cái gậy thật to mà đánh con quỷ con.

- Tại sao lại phải ác nghiệt với nó như vậy? - Vợ người nông dân hỏi. - Nó xấu xí thật, nhưng nó có làm gì xấu đâu?

- Vì nếu ta đánh bật máu con quỷ con, mẹ nó sẽ phóng tới như gió, lao vào đứa con, vứt trả con bà rồi mang con nó bay đi. Tôi đã thấy nhiều người tìm được con bằng cách ấy.

- Thật đấy, - một bà hàng xóm tán thành. - Nhưng những đứa trẻ ấy có đứa nào sống được lâu đâu.

Vợ người nông dân ngồi nghe nhưng thầm nghĩ rằng mình không thể nhẫn tâm làm như vậy được.

Buổi tối khi ngồi một mình với con quỷ nhỏ, bà thấy thương tiếc con vô hạn và khao khát được gặp con đến cháy lòng.

"Có lẽ mình đến phải thử dùng gậy như người ta khuyên mất", bà nghĩ vậy nhưng rồi bà không thể nhẫn tâm làm như thế được.

Đúng lúc đó, chồng bà bước vào, tay cầm một cây gậy to. Bà biết ngay rằng ông sắp làm cái việc mà bà không dám làm. "Càng tốt - bà nghĩ thầm. - Mình thật ngốc quá. Mình không bao giờ dám hành hạ một đứa trẻ vô tội, ngay cả khi phải cứu con mình".

Nhưng khi ông chưa kịp giáng đòn đầu tiên vào đứa trẻ thì bà đã lao tới, cản tay chồng lại.

- Không, không, ông đừng đánh nó, - bà kêu lên. - Tôi xin ông, đành đánh nó nữa!

- Thế bà không muốn gặp lại con nữa sao? Vừa nói ông vừa cố gỡ tay ra.

- Có, có chứ! Nhưng không phải bằng cách này! - Bà vợ phản đối.

Người nông dân lại giơ gậy lên, nhưng bà vợ đã lao vào che cho con quỷ con, thành ra chính bà lại bị đánh.

- Lạy Chúa! - Ông kêu lên. - Tôi thấy hình như bà cố tình bắt con chúng ta phải sống mãi với lũ quỷ...

Ông chờ một lát, nhưng bà vẫn lấy thân mình che cho con quỷ con. Ông đành quẳng gậy và bước ra, bực tức và thất vọng. Ông không hiểu tại sao lại không thực hiện nổi ý định của mình, mặc dầu trái ý vợ, nhưng hình như vợ ông có một cái gì đó bắt ông phải chịu khuất phục.

Thêm vài ngày nữa trôi qua trong nước mắt và buồn tủi. Bao giờ cũng vậy, đối với một người mẹ, mất con là một chuyện đau đớn, nhưng còn đau đớn gấp đôi khi biết rằng con mình bị đánh tráo. Nhìn đứa trẻ tiếm vị, nỗi thương tiếc con lại càng trỗi dậy trong lòng khôn nguôi.

Một buổi sáng, bà nói với chồng:

- Tôi không còn biết cho thằng bé này ăn gì nữa. Tất cả mọi thứ tôi đem cho nó, nó đều không chịu ăn.

- Chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả, - ông đáp. - Vậy bà không biết rằng giống quỷ chỉ sống bằng ếch nhái, chuột bọ thôi sao?

- Nhưng tôi làm sao mà ra ao câu ếch cho nó được.

- Tất nhiên rồi. Tôi thấy rằng nó mà chết đói thì đó là dịp may, - ông đáp.

Gần một tuần trôi qua mà vợ chồng người nông dân vẫn không làm cách nào cho đứa bé ăn. Bà đặt quanh mình nó rất nhiều thức ăn ngon lành, nhưng mỗi khi bà cố cho nó ăn thử, nó lại nhăn mặt và khạc nhổ.

Một buổi chiều, khi con quỷ con đang đói lả hầu như sắp chết, một con mèo chạy vào phòng, miệng ngậm một con chuột. Bà chạy tới, giằng lấy con chuột vứt cho con quỷ rồi vội vã bước nhanh ra ngoài để khỏi nhìn thấy nó ăn.

Khi người nông dân thấy vợ mình bắt cóc và nhện cho con quỷ con ăn, ông không thể che giấu sự kinh tởm được. Thành thử, ông cũng không thể nó với vợ một lời âu yếm nào nữa.

Tuy nhiên, bà vẫn đủ uy lực đối với ông khiến ông không bỏ nhà ra đi.

Nhưng bọn đầy tớ thì không còn kính trọng bà chủ chút nào. Họ bắt đầu không vâng lời bà như trước. Ông chủ thì làm ra vẻ không nhận thấy gì cả, và bà vợ hiểu rằng nếu bà còn giữ con quỷ con trong nhà, cuộc sống của bà sẽ chỉ còn là một chuỗi hình phạt vô tận. Nhưng tính bà vẫn cứ thế: trước một kẻ bị mọi người căm ghét, bà cảm thấy mình có một trách nhiệm bức thiết là phải giúp đỡ kẻ đó. Và, càng phải chịu khổ vì con quỷ nhỏ bao nhiêu, bà càng chăm sóc nó tận tình bấy nhiên sao cho chẳng ai có thể làm hại nó.

Hai năm đã trôi qua như vậy. Một ngày kia, vợ người nông dân một mình ngồi trong nhà vá chiếc áo choàng cho đứa trẻ. Vừa khâu bà vừa than thở: "Thật chẳng sung sướng gì khi phải nuôi con của kẻ khác." Bà làm vội vàng vì cái áo có không biết bao nhiêu là chỗ rách lớn. Nước mắt cứ tuôn ra làm mờ mắt bà. Bà nghĩ tiếp: "Nếu đây là cái áo cho con ta thì chắc chắn ta sẽ chẳng than vất vả. Ta khổ nhiều vì con quỷ này. Tốt hơn là đem nó vào rừng sâu, rồi bỏ mặc nó đấy".

Một lát sau, bà lại nghĩ: "À mà ta có thể dứt bỏ nó một cách nhẹ nhàng hơn. Chỉ cần ta không để ý canh chừng nó, chắc chắn nó sẽ chết đuối dưới giếng, hoặc nó sẽ làm bắn lửa bén vào áo khi chơi bên lò sưởi, hoặc nữa nó sẽ bị chó cắn hay ngựa đá chết. Nó thật là liều lĩnh, thật là hung ác. Tất cả mọi người và cả súc vật trong trại đều ghét nó. Và nếu ta không biết để ý trông nó, mọi người sẽ thủ tiêu nó ngay lập tức".

Bà đứng dậy và đưa mắt nhìn đứa trẻ đang nằm ngủ cuộn tròn trong góc phòng. Nó đã lớn nhiều, và còn xấu xí hơn cả lúc bà nhìn thấy nó lần đầu: cái mồm giãn ra như mồm thú, lông mày dựng đứng như hai túm lông đuôi súc vật, mặt đen thủi đen thui.

"Vá quần áo cho mày, chăm sóc mày, những cái đó chưa có nghĩa lý gì, - bà lẩm bẩm. - Đó mới chỉ là những nỗi khổ đau nhỏ nhất mà ta phải chịu đựng vì mày. Nhưng chồng ta kinh tởm ta, bọn đầy tớ trai khinh bỉ ta, bọn đầy tớ gái chế giễu ta, con mèo nó cũng khạc phì phì khi trông thấy ta, cả con chó cũng nhe răng với ta. Tất cả chỉ tại mày thôi.

"Có lẽ ta sẽ chịu đựng được sự khinh ghét của mọi người và của cả súc vật, - bà thở dài - nhưng đau khổ cho ta nhất là mỗi khi nhìn thấy mày, ta lại thương tiếc như điên như cuồng đứa con trai của ta. Hỡi ôi, con yêu quý của mẹ, con ở đâu? Phải chăng con đang ngủ trên đám rêu, hay trong đống lá bên bọn quỷ dữ ở tít tận rừng sâu?"

Cánh cửa bật mở. Bà hấp tấp cúi đầu khâu tiếp. Chồng bà bước vào, mặt tươi tỉnh. Đã từ lâu chưa bao giờ ông ăn nói dịu dàng với bà như hôm nay.

- Hội chợ làng mở rồi đấy. Chúng ta sẽ tới đó xem nhé, bà nghĩ sao?

Lòng bà đầy vui sướng, bà đáp rằng bà không còn muốn gì hơn.

- Vậy bà chuẩn bị nhanh nhanh lên nhé, - ông nói, - chúng ta sẽ phải đi bộ, vì ngựa ở ngoài đồng cả rồi. Nhưng nếu ta đi tắt đường núi thì sẽ kịp thôi.

Vài phút sau, bà chủ ăn mặc chỉnh tề xuất hiện trên ngưỡng cửa. Đây là niềm sung sướng nhất đối với bà từ lâu nay. Mải vui, bà đã hoàn toàn quên con quỷ nhỏ. Bất chợt, một ý nghĩ lóe lên: "Hay là chồng ta tìm cách đưa ta đi xa để bọn đầy tớ giết chết đứa trẻ kia chăng?" Bà quay ngay vào nhà rồi trở ra với đứa bé lộc ngộc trên tay.

- Bà không thể để nó ở nhà được sao? Người chồng nói nhẹ nhàng, không hề giận dữ.

- Không. Tôi không dám rời nó ra đâu.

- Thôi được, nếu bà muốn vậy, - ông nói giàn hòa, - nhưng bế nó vượt núi sẽ nặng nhọc lắm đấy.

Hai vợ chồng lên đường. Họ đi rất vất vả vì đường dốc cheo leo. Họ phải vượt qua đỉnh núi trước khi tới đường cái làng. Chẳng mấy lúc bà thấm mệt, rồi hầu như không bước được nữa. Bà để đứa bé to sù cho nó tự đi một mình một chút nhưng không được.

Chồng bà có vẻ rất tử tế. Từ ngày mất con, chưa bao giờ bà thấy ông vui như hôm nay.

- Bà đưa thằng bé cho tôi bế một lúc, - ông đề nghị, - bà mệt quá rồi đấy.

- Không sao đâu, - bà trả lời. - Vả lại, tôi cũng muốn ông không phải bận tâm đến nó.

- Nhưng làm sao tôi lại có thể để bà phải chịu vất vả một mình, - ông vừa nói vừa đỡ lấy đứa bé.

Ở quãng này, đường lại rất xấu, vừa trơn vừa gồ ghề. Con đường chạy men một hẻm núi sâu. Đường rất hẹp, chỉ đủ cho một người qua. Bà vợ đi sau. Bà bỗng thấy sợ chồng có thể vấp ngã cùng đứa trẻ trên tay.

- Đi từ từ thôi ông ạ, - bà gọi với vì thấy chồng hình như đi nhanh và thiếu thận trọng.

Bà vừa dứt lời, quả nhiên ông chồng bước hụt một bước, suýt đánh rơi đứa bé.

"Nếu đứa bé bị rơi xuống, có lẽ ta sẽ dứt bỏ được nó mãi mãi", - một tiếng nói thì thầm từ đáy lòng bà. Nhưng ngay lúc đó bà chợt hiểu ra rằng chồng bà có ý định ném đứa bé xuống vực rồi làm như chẳng may đánh rơi nó.

"Đúng. Đúng rồi. Ông ấy đã sắp xếp cuộc đi chơi này để dứt bỏ con quỷ nhỏ, sao cho ta không thể biết là ông ta cố tình. Nghĩ cho cùng, cứ để ông ấy làm như vậy có lẽ hơn cả." Ông chồng lại vấp vào rễ cây một lần nữa, và đứa bé lại suýt tuột khỏi tay ông.

- Ông đưa thằng bé đây cho tôi, kẻo cùng ngã với nó mất thôi, - bà nói.

- Thôi, ông đáp, - Tôi sẽ cẩn thận hơn mà.

Nhưng ngay lập tức, ông trượt chân lần thứ ba. Ông vội đưa tay túm lấy một cành cây, làm đứa bé rơi tuột xuống. Bà vội bám sát gót chồng. Tuy đã có lúc bà tự nhủ rằng thật là hạnh phúc làm sao nếu dứt bỏ được đứa bé, bà vẫn lao tới, túm được vạt áo nó và kéo nó lên.

Người chồng quay lại. Nét mặt ông đổi khác hẳn, trông thật dữ tợn.

- Sao bà không nhanh được như vậy hôm đánh rơi con, - ông giận dữ hét lên.

Khổ tâm, điếng người, bà im lặng không đáp. Thế ra sự tử tế của chồng bà chỉ là vờ vịt. Bà cảm thấy tủi cực nên khóc òa lên.

- Tại sao bà khóc? - Ông nghiêm khắc nói. Con quỷ kia ngã lại là một điềm đau khổ đến thế chăng? Thôi ta đi đi. Nếu không sẽ muộn mất.

- Tôi không còn lòng dạ nào đến hội chợ nữa.

- Tùy bà, - ông đáp, - Vả lại, tôi cũng chẳng muốn đi nữa.

Hai vợ chồng quay về nhà. Vừa đi, người chồng tự hỏi không biết mình còn sống nổi với vợ đến bao giờ nữa. Nếu như ông cố thêm một lần cuối; giằng lấy thằng bé trong tay vợ thì có lẽ vợ chồng ông sẽ lại chung sống hạnh phúc. Đang chuẩn bị đấu tranh với vợ, bất chợt ông bắt gặp phải đôi mắt bà đang nhìn ông đau đớn và lo âu. Cái nhìn ấy, một lần nữa, lại khuất phục ông. Thế là tình hình lại y nguyên như cũ.

Lại hai năm nữa trôi qua. Cho tới một đêm hè kia, nhà người nông dân bỗng nhiên bốc cháy.

Khi mọi người tỉnh giấc, toàn bộ căn phòng đã chìm ngập trong lửa khói, kho thóc chỉ còn đống than hồng. Chẳng ai nghĩ đến việc dập lửa hay cứu tài sản, mà chỉ còn đủ thời gian lao ra ngoài.

Ông chủ điểm lại nhân số trang trại, thấy đủ cả. Lúc đầu, chẳng ai nghĩ tới con quỷ con. Đứng giữa đám gia nhân, ông nhìn nhà mình đang làm mồi cho ngọn lửa. Ông nói:

- Ta rất muốn biết, ai đã gây ra tai họa này?

- Còn ai nữa, - bọn đầy tớ trả lời. - Chỉ có con quỷ con kia thôi. Dạo này nó chẳng hay chơi trò nhặt các mẩu gỗ, cành cây rồi đem đốt là gì?

Một chị đầy tớ tiếp lời:

- Mới hôm qua đây thôi, nó chất một đống cành khô ở kho thóc. May là tôi ngăn kịp khi nó sắp châm lửa.

- Thế thì nó không đốt hôm qua mà là hôm nay rồi, - một anh đầy tớ nói. - Chính nó đã gây thảm họa cho ông đấy.

- Ước gì nó vẫn còn ở trong đó! - Ông chủ nói - Nếu như vậy thì bị cháy nhà ta cũng chẳng phàn nàn gì.

Ngay lúc đó, mọi người thấy bà chủ lao ra, từ ngôi nhà ngập lửa, tay kéo thằng quỷ con.

Ông chủ nhà giận uất người, nhảy xổ tới, giằng lấy đứa bé và lại ném nó vào đống lửa.

Lửa bốc ra ngùn ngụt từ các ô cửa sổ; nóng rực, khói dày đặc. Như người mất hồn, sợ tái mặt bà chủ đưa mắt nhìn chồng trong giây lát, rồi lại lao ngay vào nhà theo thằng bé, chẳng ai kịp ngăn cản.

- Cả mày nữa, cứ ở lại đó luôn đi? - Người chồng thét, giận sôi lên.

Nhưng vợ ông đã trở ra cùng đứa trẻ. Tay bà bị bỏng, tóc cháy xém. Khi bà đi qua sàn, chẳng ai thèm nói với bà một lời. Bà đi ra giếng, dập tắt mấy tàn lửa bám vào váy, rồi ngồi bệt xuống cỏ, dựa vào thành giếng. Đứa bé con quỷ nằm trên đùi bà, chẳng mấy chốc đã ngủ, còn bà thì vẫn ngồi nguyên, đôi mắt u buồn nhìn chằm chằm về phía trước. Những người đi qua chẳng ai buồn để ý tới bà, hoặc đều tránh xa, thì thấy bà quá ư thiểu não.

Rạng sáng, khi ngôi nhà chỉ còn là một đống tro tàn và đã cháy xém, người chồng tới tìm bà.

- Tôi không chịu nổi cuộc sống này nữa. - ông nói. - Phải xa bà, tôi rất tiếc, chắc bà cũng biết, song tôi không thể sống với một con quỷ được. Tôi đi đây và sẽ không trở về nữa.

Thấy chồng nói thế rồi bỏ đi, bà tưởng như tim mình bị đứt ra khỏi lồng ngực. Bà những muốn chạy theo giữ chồng lại, nhưng con quỷ con vẫn đè nặng trên gối bà. Bà cảm thấy không còn đủ sức đẩy nó ra nữa.

Người nông dân đi vào trong rừng, lòng tự nhủ rằng có lẽ đây là lần cuối cùng mình đi trên con đường thân thuộc này. Đúng lúc ông đi tới lưng chừng dốc, một chú bé chạy tới gặp ông. Người chú mảnh mai và dong dỏng như một cây non. Mái tóc mềm như tơ, đôi mắt ngời sáng. "Nếu con ta còn, chắc nó cũng như thế này đây" - ông thở dài nghĩ thầm. Nhẽ ra ta phải có người thừa kế như thế, chứ đâu phải con yêu quái kinh tởm mà vợ ta cứ cố sống cố chết nuôi nấng..."

- Chào cháu bé, ông nói, - cháu đi đâu đấy?

- Cháu chào bác, - chú bé trả lời - nếu bác đoán được cháu là ai thì cháu sẽ cho bác biết cháu đi đâu.

Nghe giọng nói của chú bé, người nông dân bỗng thất sắc.

- Giọng cháu nói y như người trong nhà ta vậy. Nếu con trai ta không bị bọn quỷ bắt, ta sẽ nghĩ cháu là nó đấy.

- Cha ơi, cha đoán đúng đấy, - chú bé nói. - Vì cha đã đoán đúng, nên con xin nói cho cha biết là con đi tìm mẹ con đây.

- Đừng đi con ạ, - ông ngăn lại. - Vì mẹ con giờ chỉ yêu thương một mình con quỷ đen kinh tởm thôi.

- Cha tin vậy sao? - Chú bé nhìn thẳng vào mắt ông, hỏi.

Sung sướng tột độ vì gặp lại con, mắt ông rưng rưng ngấn lệ.

- Thôi, con ở lại đây với cha, vừa nói ông vừa bế thốc chú bé lên. Như sợ mất con lần nữa, ông ôm chặt lấy chú bé và đi tiếp.

Cháu bé láu táu nói chuyện.

- Thật may mà cha bế con cẩn thận hơn hôm cha bế con quỷ!

- Con nói gì vậy? - Người cha ngạc nhiên hỏi.

- Cha không nhớ lần đó sao? Hôm ấy mẹ thằng quỷ cũng bế con đi phía bên kia vực; mỗi lần cha vấp và suýt để rơi thằng quỷ con thì mẹ nó cũng làm hệt như vậy. Chưa bao giờ con sợ đến thế. Lúc cha định ném nó xuống vực, mẹ nó cũng sắp quẳng con xuống đó. Ôi, nếu mẹ con không túm kịp nó thì...

Người nông dân bước chậm lại, ngắt lời con:

- Giờ con hãy kể cho cha nghe con sống ở đó ra sao, ở nhà lũ quỷ ấy.

- Đôi lúc cũng khổ sở lắm, - chú bé trả lời. - Nhưng mẹ con đối xử tốt với thằng quỷ con thì chúng cũng không đối xấu với con đâu.

- Đôi lúc chúng cũng đánh con chứ?

- Chỉ lúc cha đánh con chúng thôi.

- Thế chúng có cho con ăn uống tử tế không? - Người cha hỏi tiếp.

- Mỗi khi mẹ con cho thằng quỷ ăn cóc và chuột, chúng cho con ăn bánh mì trắng và bơ. Nhưng khi cha mẹ cho nó ăn thịt nấu chín và bánh mì, chúng lại bắt con ăn rắn rết và cỏ gai. Tuần đầu con suýt chết đói đấy. May mà mẹ con đã thương hại thằng quỷ con!...

Nghe con nói vậy, người nông dân lúc này đã bước chầm chậm liền quay ngoặt trở lại con đường dốc núi.

Sau một hồi im lặng, ông lên tiếng:

- Không biết cha nghĩ có đúng không, hình như người con có mùi khói?

- Có gì lạ đâu cha, - chú bé trả lời. - Đêm qua chúng đã ném con vào đống lửa khi cha xô con quỷ vào ngôi nhà đang cháy. Nếu mẹ không có đấy thì...

Người nông dân sải chân bước, nhưng bỗng đứng chững lại:

- Con nói cho cha biết, vì sao lũ quỷ đã thả con về.

- Khi mà mẹ con hy sinh cái mà mẹ con quý hơn tính mệnh, thì chúng không còn có uy lực gì đối với con nữa.

- Mẹ con đã hy sinh cái mà mẹ con quý hơn tính mệnh ư? - Người cha hỏi lại.

- Đúng vậy đấy cha ạ, - chú bé trả lời. - Tức là mẹ con đành để cho cha ra đi, chỉ vì muốn cứu thằng quỷ con.

Vợ người nông dân vẫn ngồi nguyên chỗ cũ, bên bờ giếng . Bà không ngủ, nhưng giống như người bị cóng lạnh. Bà không thể cử động, mà cũng chẳng nhìn thấy gì quanh mình; dường như bà đã chết. Bỗng nhiên bà nghe có tiếng chồng gọi từ rất xa. Thế là trái tim bà lại hồi hộp. Cuộc sống trở lại với bà. Mở to đôi mắt, bà nhìn quanh như vừa bừng tỉnh sau một giấc ngủ mê mệt. Trời đã sáng rõ. Mặt trời chiếu rực rỡ. Chim sơn ca hót vang. Trong một ngày như thế, lẽ nào có điều bất hạnh xảy đến được. Nhưng rồi đôi mắt bà dừng lại trên đống tro tàn gạch xám mà trước đây là ngôi nhà của bà, trên những con người có đôi tay đen xì và mặt đỏ rực. Bà thầm nhủ rằng bà tỉnh dậy chỉ để bước vào một cuộc sống còn đau buồn hơn trước. Vậy mà bà cứ cảm thấy dai dẳng, rằng nỗi phiền muộn đau khổ dằng dặc của bà đã chấm dứt. Bà đưa mắt tìm con quỷ. Nó không còn nằm ngủ trên gối bà nữa, và chẳng thấy nó đâu. Giá vào lúc khác, chắc bà đã vội đi tìm nó. Nhưng lúc này, bà linh cảm thấy việc đó là vô ích.

Lại một lần nữa bà nghe thấy tiếng chồng gọi. Tiếng vang lại từ phía khu rừng. Cùng lúc đó, chồng bà xuất hiện trên con đường hẻm dẫn về trang trại. Nhưng tất cả mọi người đêm qua đến chữa cháy đã chạy ùa tới chỗ ông và che lấp ông đi. Bà chỉ còn nghe thấy tiếng gọi liên hồi của chồng.

Tiếng gọi của ông báo hiệu một nguồn vui vô tận. Bà ngồi như đóng đinh tại chỗ. Cuối cùng, chồng bà tách khỏi đám đông và tới đặt trên gối bà một đứa trẻ xinh xắn.

- Con trai chúng ta đấy! Người ta đã trả lại nó cho chúng ta đây, - ông nói - Chính bà, chỉ một mình bà đã cứu con thoát khỏi tay bọn quỷ đấy!


TÔ CHƯƠNG dịch



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
       
     
Có bài mới 21.04.2017, 16:20
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 29 Nữ
Bài viết: 16330
Được thanks: 4281 lần
Điểm: 9.07
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tập truyện ngắn] Chiếc xe của thần chết - Selma Lagerlöf - Điểm: 10
LÔNG TƠ

1

Tôi tưởng như đang thấy họ lên đường. Tôi thấy rất rõ cái mũ có lò xo của chàng, với vành rộng bỏ ngược lên, kiểu mũ người ta vẫn đội vào quãng năm 1840. Tôi thấy cái áo gilê màu sáng, cái khăn che ngực của chàng. Tôi cũng thấy khuôn mặt đẹp của chàng cạo nhẵn nhụi, với hàng ria ngắn, cái áo cổ cao thẳng đứng, vẻ chững chạc và duyên dáng đúng mực trong mọi cử chỉ của chàng. Chàng ngồi phía bên phải xe. Chàng vừa nắm lấy dây cương; và cạnh chàng là người đàn bà bé nhỏ. Cầu Chúa ban phúc cho nàng: Nàng thì tôi còn nhìn thấy rõ hơn nữa. Trước mắt tôi là một khuôn mặt thanh tú đóng khung trong cái mũ có dải buộc xuống dưới cằm, mái tóc màu nâu sẫm và tấm khăn sau lụa rộng thêu hoa. Chiếc xe của họ có một ghế dài giát sơn xanh; và con ngựa của ông chủ quán sẽ chở họ đi dặm đường đầu tiên là một con ngựa nhỏ lông hồng, mập mạp. Ngay từ lúc mới nhìn nàng lần đầu, không hiểu sao tôi đã thấy mến, vì nàng đúng là Lông Tơ, nhẹ nhất, bồng bềnh nhất, vô nghĩa nhất, nàng Lông Tơ nhỏ nhắn. Chỉ cần trông thấy những cặp mắt người ta nhìn theo nàng là lòng tôi cảm mến nàng ngay. Trước hết là ông bố và bà mẹ, đứng trên bậc thềm hiệu bánh mì nhà họ, cứ nhìn theo nàng mãi. Ông bố nước mắt lưng tròng; bà mẹ thì không thể khóc vì còn phải để cho đôi mắt dõi nhìn theo cô con gái cứ vẫy chào mẹ mãi cho đến khi không nhìn thấy được nữa mới thôi. Tiếp đến là những câu chào hỏi vui mừng của tất cả trẻ con dọc đường phố nhỏ, và những cái liếc mắt tinh nghịch của hết thảy các cô gái đứng trong cửa sổ nhìn ra, những cái nhìn mơ màng của các cậu học việc và các chàng thợ trẻ đi qua trông thấy nàng. Ai cũng tỏ vẻ thân ái với nàng và ân cần chào tiễn. Cuối cùng là vẻ lo lắng ái ngại của các bà già nghèo khổ đi ra khỏi nhà để cúi chào nàng và bỏ kính ngắn nhìn thật kỹ vẻ lộng lẫy của nàng. Tôi không hề nhận thấy một cái nhìn ác ý nào suốt dọc con đường nàng đi qua.

Nàng đã đi khuất. Ông bố đưa ống tay quệt vội nước mắt và nói:

- Đừng buồn bà nó ạ. Con nó sẽ xoay sở được. Bé tẹo như vậy nhưng Lông Tơ của chúng mình biết xoay sở đấy!

- Ông nó nói buồn cười thật! - Bà mẹ kêu lên với giọng huênh hoang. - Tại sao An-Maria của chúng mình lại không biết xoay sở kia chứ? Tôi cho rằng nó chẳng kém cạnh ai cả đâu!

- Đúng thế, bà nó ạ! Đúng thế, nhưng dù sao... tôi thì tôi chẳng muốn ở vào địa vị nó và đi đến chỗ nó đang đi. Thật đấy, tôi chẳng muốn chút nào!

- Thì có ai bảo ông đi đâu, cái ông chủ hiệu bánh mì già khọm và xấu xí này! - Bà mẹ cảm thấy cần nói đùa một câu cho chồng hết lo lắng.

Và ông bố liền cất tiếng cười, vì ông cười cũng dễ mà khóc cũng dễ. Rồi hai ông bà già lui vào cửa hiệu.

Trong lúc này, Lông Tơ, bông hoa nhỏ bằng lụa, lòng đầy dũng cảm, đang lên đường. Nàng có phần hơi nhút nhát và sợ sệt bên cạnh vị hôn phu đẹp trai của mình; thật ra thì nàng hơi sợ tất cả mọi người và chính vì vậy mà mọi người đều tốt với nàng và cố tỏ cho nàng thấy chẳng việc gì mà sợ hãi.

Tuy vậy, Môrit chưa bao giờ gây cho nàng một niềm kính phục như hôm nay. Từ lúc họ bỏ lại phía sau phố phường và tất cả các bạn hữu, nàng thấy như Môrit đã lớn thêm lên. Có thể nói rằng cái mũ, cái cổ áo, bộ ria của chàng đều cứng lại và những múi cà vạt của chàng thì phồng lên. Giọng nói của chàng trầm đến nỗi trở thành khàn khàn. An-Maria cảm thấy e sợ hơn, nhưng thấy Môrit oai vệ như vậy nom thật là đẹp. Môrit là người lý lẽ rất sắc sảo; và chàng thuyết giáo nàng. Nói có lẽ chẳng ai tin, nhưng đúng là Môrit cứ nói lý nói lẽ suốt dọc đường. Chàng hỏi Lông Tơ xem nàng có thật hiểu rõ tầm quan trọng của chuyến đi này đối với nàng hay không. Hay là nàng lại tưởng đây chỉ là cuộc đi chơi dã ngoại? Vượt mươi dặm đường trên một chiếc xe vững chãi, bên cạnh vị hôn phu của mình, quả là giống như một cuộc nhàn du. Rồi đến thăm một tòa nhà khang trang và một ông chủ giàu có. Đúng vậy, nhưng coi chừng! Đây đâu phải là một trò giải trí.

Chao ôi! Nếu Môrit biết rằng nàng đã mất bao công sức chuẩn bị cho chuyến đi này, rằng nàng đã qua bao buổi tối bàn đi tính lại với mẹ, đã thấy hàng loạt giấc mơ lo lắng và gặp bao cơn ác mộng!... Nhưng nàng không hé ra một lời nào. Lông Tơ giả bộ khờ dại chỉ là để được thích thú nghe những lý lẽ khôn ngoan rất mực của Môrit mà thôi. Môrit ưa phô trương sự khôn ngoan và lý lẽ của mình và nàng sẵn lòng cho chàng được hưởng cái thú ấy.

- Vô lý thật, - chàng nói, - làm sao em lại kháu khỉnh đến thế!

Quả thật, nếu nàng không kháu khỉnh đến thế thì chàng đã chẳng phạm phải cái điều bất hợp lý là say mê nàng. Ông bố của Môrit không hài lòng về sự lựa chọn của con trai. Còn bà mẹ? Quả thật chàng không dám nhớ lại tất cả những chuyện lôi thôi của bà đã gây ra khi chàng bảo cho bà biết chàng đã đính hôn với một cô gái bé bỏng nghèo hèn ở một phố nhỏ, một cô gái không có học vấn, không có tài năng, đến sắc đẹp cũng không nốt, chỉ được cái là kháu khỉnh.

Dưới con mắt của Môrit thì cô gái một ông chủ hiệu bánh mì chắc chắc cũng sánh được với con trai một ông thị trưởng, nhưng không phải ai cũng có được đầu óc rộng rãi và phóng khoáng như chàng. Và nếu Môrit không có một ông chú giàu sang thì cái dự định hôn nhân này đành là đổ xuống sông xuống biển. Vốn liếng của một sinh viên quèn như chàng không cho phép chàng lập gia đình. May làm sao lại có ông chú. Chỉ cần thu phục được cảm tình của ông là mọi việc sẽ trót lọt.

Tôi nhìn thấy hai người khi họ ngồi xe đi trên con đường lớn. Nàng có một dáng điệu hơi khổ sở trong khi nghe chàng tuôn ra những lời khôn ngoan. Nhưng trong thâm tâm nàng thấy vui lòng biết mấy! Môrit thật quả là khôn ngoan và biết điều! Chàng thích kể lể những nỗi thiệt thòi mà chàng phải chịu vì nàng: đó là cái lối chàng cho nàng biết chàng yêu nàng biết mấy. Có lẽ nàng cũng nghĩ rằng trong một ngày như hôm nay, chỉ hai người ngồi với nhau thôi, thì đáng ra chàng không cần phải giữ ý đến thế, như khi có con mắt kiểm soát của bà mẹ. Không: về phần chàng, làm như vậy chẳng nên đâu. Nàng có thể tự hào về chàng.

Và bây giờ, thì chàng bắt đầu nói chuyện với nàng về ông chú. Chỉ cần được con người ấy che chở cho, thì số phận của chàng và nàng sẽ bảo đảm. Chú Têôdo giàu ghê lắm. Ông là chủ của mười một lô đất, đó là chưa kể đến nhà cửa, những cổ phần hầm mỏ. Ông chỉ có một người thừa kế hợp pháp: đó là Môrit. Nhưng ông không phải là người dễ tính. Nếu người vợ của Môrit không hợp ý ông là ông có thể chọn một người khác cho hưởng gia tài.

Khuôn mặt nhỏ nhắn của nàng mỗi lúc một tái đi và mỏng ra; còn Môrit thì cứ tiếp tục đanh lại và phồng lên. Đừng có ảo tưởng: An-Maria sẽ không làm cho chú Têôdo chết mệt như Môrit đâu! Chú ấy thuộc một loại người khác và Môrit chẳng tin tưởng gì lắm vào sở thích của chú: chắc rằng ông ấy phải ưa loại người đỏ da thắm thịt và ăn to nói lớn kia. Hơn nữa cái ông độc thân thâm căn cố đế này lại cho rằng đàn bà là rợ buộc chân trong cuộc sống. Nhưng miễn là An-Maria đừng làm cho chú ác cảm còn mọi việc khác đã có Môrit lo liệu. Nhất là chớ có ngốc ngếch và khờ dại!... Thôi, mới nói thế mà đã khóc rồi!... Em mà không mạnh dạn hơn lên, chúng mình sẽ được chú tống khứ đi sớm đấy...

Nàng nghĩ rằng, tạ ơn Chúa, ông chú không khôn ngoan như cậu cháu của ông! Như vậy chẳng phải là nghĩ xấu chút nào về Môrit: nhưng nếu Môrit là ông chú, và nếu như hai người trẻ tuổi khốn khổ đến xin tiền để sinh sống thì Môrit, vốn là hiện thân của lý trí, chắc chắn sẽ mời họ trở về nhà và chờ cho đến khi có của nả rồi hẵng cưới nhau...

Ông chú này, theo như lời Môrit nói thì ghê gớm lắm. Ông uống rượu, tiệc tùng ngày này qua ngày khác; và trong nhà ông, người ta sống thật kinh khủng. Không tằn tiện một chút nào, chú Têôdo ấy! Người ta có thể đánh lừa và cho ông thấy là ông bị đánh lừa: ông chẳng vì thế mà bớt một tiếng cười vang. Ông thị trưởng đã giao nhiệm vụ cho con trai phải tuôn cho ông một số cổ phiếu chẳng còn tí giá trị nào. Ông sẽ mua số cổ phiếu ấy không chút nghi ngại. Ông tiêu xài linh tinh vong mạng. Một hôm, ở giữa quảng trường, người ta thấy ông vứt cho trẻ con những đồng bạc trắng. Còn cái chuyện đánh bạc mất một vài nghìn đồng rix - đale trong một đêm và đốt giấy bạc để châm tẩu thuốc, đối với ông là chuyện rất bình thường.

Hai người nói chuyện với nhau như vậy trên đường đi. Họ đến nơi vào chập tối. "Dinh thự" của chú, như cách gọi của Môrit, không phải là một cái lò rèn. Lánh xa khói than và tiếng đe búa điếc tai, nó được xây trên sườn một quả đồi, nhìn xuống một phong cảnh có hồ có núi chạy dài. Ngôi nhà xây thật đẹp, xung quanh là những đồng cỏ xanh và những đám rừng phong.

Hai người trẻ tuổi đi lên một con đường trồng cây du và cây tùng rậm rạp. Nhưng vừa lúc họ sắp rẽ vào sân thì nhìn thấy một cổng chào; và dưới cổng chào, ông chú đang đứng đợi họ cùng với bọn người nhà và thợ thuyền. Nàng Lông Tơ nhỏ nhắn không hề nghĩ rằng Môrit đáng được ông chú đón tiếp như vậy. Nàng lập tức thấy nhẹ cả người. Nàng nắm lấy tay vị hôn phu và bóp thật mạnh. Nàng không thể làm gì hơn nữa, bởi vì họ đã đến nơi...

Ông ta đứng kia, con người đầy quyền lực, ông chủ xưởng đúc Têôđo Frixted cao lớn lực lưỡng, đầy vẻ nhân hậu trong bộ râu cằm đen. Ông lắc lắc cái mũ và kêu lên: U-ra! và đám người cùng kêu lên: U-ra! Và An-Mari vừa chảy nước mắt vừa hé môi cười. Và dĩ nhiên là mọi người đều mến nàng ngay từ phút đầu, chỉ do dáng điệu của nàng nhìn Môrit. Nàng tự nhủ rằng tất cả những người này đến đây là vì chàng, và nàng quay lưng lại cái cảnh trọng thể này để ngắm chàng, khi chàng dang rộng tay cất mũ và cúi chào một cách đường bệ. Chao! Đôi mắt nàng nhìn chàng mới đẹp làm sao! Và ông chủ Têôđo suýt nữa thì ngừng tiếng hoan hô và thốt lên một tiếng rủa.

Quả thật là Lông Tơ chưa bao giờ mong muốn điều không hay cho một người nào; nhưng nếu như số phận dành cho Môrit cái cơ ngơi này, thì chúng hoàn toàn phù hợp với địa vị ông chủ. Chàng đẹp lộng lẫy khi đứng trên bậc thềm cảm ơn mọi người. Ông chủ xưởng đúc cũng đẹp trai, nhưng so với Môrit, ông chẳng có chút phong thái lịch sự nào. Ông chỉ biết đỡ nàng xuống xe, cầm giúp nàng cái khăn san và cái mũ như một người đầy tớ, trong khi ấy, Môrit cất mũ nhiều lần và nói: "Cảm ơn các chú!". Không, ông chú Têôđo chẳng có kiểu cách lịch sự gì cả. Ông sử dụng quyền làm chú của mình, ôm lấy nàng, hôn nàng, và khi nhận thấy nàng đưa mắt liếc Môrit, ông chửi thề và lại còn rủa nữa. Lông Tơ không có thói quen cho người khác là khó chịu, nhưng nàng tự nhủ rằng làm vừa lòng được ông chú Têôđo không phải là chuyện dễ dàng.

- Ngày mai, - ông chú nói, - sẽ có tiệc lớn và khiêu vũ, nhưng hôm nay, các vị khách trẻ tuổi của tôi hãy nghỉ ngơi sau chuyến đi xa. Chúng ta sẽ đi ăn tối ngay; rồi đi ngủ.

Ông đưa hai người vào phòng khách và để họ ở đó một mình. Ông chạy trốn như một luồng gió sợ bị giam giữ. Năm phút sau; người ta thấy ông ngồi trong chiếc xe lớn của ông, đi xuống con đường hai bên trồng cây, và người xà ích quất ngựa phi rạp xuống đất. Năm phút nữa trôi qua, và khi ông chú trở về thì có một bà già ngồi cạnh ông trong xe.

Ông khoác tay bà đi vào phòng khách. Bà này, rất dễ thương và rất hay chuyện, lập tức ôm hôn An-Maria; nhưng bà chào Môrit không được vồn vã lắm. Vả chăng, ai mà dám sỗ sàng với Môrit cơ chứ?

An-Maria rất sung sướng vì bà già hay chuyện này đã đến. Bà và ông chủ xưởng đúc có một kiểu nói đùa và trêu chọc nhau thật ngộ nghĩnh làm cho người ta càng thấy dễ chịu, càng thấy như ở nhà mình.

Sau bữa ăn tối, An-Maria được dẫn đến căn phòng nhỏ dành cho nàng. Nhưng ở đó, nàng đã gặp một điều rất phiền và rất khó chịu. Dưới cửa sổ phòng nàng, ông chú và Môrit đi dạo trong vườn; và nàng không thể ngăn mình nghe những điều họ nói. Môrit trình bày những dự kiến tương lai của chàng. Ông chú im lặng lấy chiếc can phạt đứt những ngọn cỏ và những bông hoa. Chắc hẳn Môrit sẽ nhanh chóng thuyết phục được ông rằng không có gì thích hợp với chàng bằng một chân quản lý ở một trong những xưởng đúc của ông. Môrit đã tự phát hiện ra mình có năng lực đáng kể về công việc thực tế, từ khi chàng bắt đầu yêu. Chàng thường nói với vị hôn thê: "Một khi số của anh đã định là anh sẽ trở thành một ông chủ lớn thì cần gì phải thi tốt nghiệp luật khoa nữa? Bắt đầu vào làm quen ngay với việc quản lý tài sản có hơn không?".

Đôt nhiên ông chú Têôđo đứng lại: ông có vẻ bực tức. Thậm chí ông còn có vẻ nổi khùng lên nữa. Lông Tơ những muốn kêu lên cho Môrit biết mà đề phòng. Nhưng chậm quá rồi; ông chú Têôđo đã túm lấy ngực Môrit; vò nát cái khăn che ngực của anh; lắc anh quay tròn và xô mạnh đến nỗi anh lảo đảo và nếu không dựa được vào một thân cây thì đã ngã bổ nhào xuống đất.

Nhưng Môrit thật đáng khen. Bị hành hung như vậy mà anh chẳng hề tức bực. Anh không muốn chuyến đi của anh và nàng trở nên vô ích. Chắc rằng anh đã nghĩ đến vị hôn thê, và anh đã tự kiềm chế được. Anh chỉ thì thào có một tiếng: "Sao? Sao?"

Lông Tơ khâm phục sự bình tĩnh cao độ và sự tự chủ của chàng.

Tội nghiệp Môrit, có lẽ vì nàng mà ông chú đã bực với anh. Sao anh lại không biết rằng chú sống độc thân và nhà của chú là nhà không có đàn bà. Sao anh lại không đưa bà mẹ vợ chưa cưới của mình đến? ... Chà! Thật ra thì bà không thể bỏ cửa hiệu bánh mì mà đi được! Thế còn bà mẹ của anh? Lòng kiêu hãnh đã ngăn không cho bà giúp con trai việc này ư? Nếu vậy, họ chỉ có cách là ở nhà đừng đi đâu nữa. Nếu như bà hàng xóm này của chú không chịu đến thì họ biết xoay xở ra sao? Và đời thuở nào mà vợ chồng chưa cưới lại dẫn nhau đi một mình như vậy? Chắc chắn Môrit chẳng phải là người nguy hiểm! Nhưng miệng lưỡi thế gian nguy hiểm lắm... Lại còn cái xe này nữa! Không biết anh đã tìm ra cái xe kỳ cục này ở nơi quái quỷ nào? Ai lại nghĩ ra chuyện bắt một cô bé tội nghiệp ngồi trong chiếc xe xóc nẩy người lên suốt mười dặm đường! Thế mà ông, ông chú Têôđo, đã cho dựng cả một cái cổng chào để đón tiếp một chiếc xe chỉ có ghế băng như thế này!

Lông Tơ thấy rằng ông chủ đã vượt qua giới hạn của sự vô lý: nàng càng thêm khâm phục sự bình tĩnh của Môrit. Nàng những muốn xen vào câu chuyện để bênh vực chàng. Nhưng nàng không tin rằng chàng sẽ bằng lòng cho nàng làm như vậy.

Trước khi ngủ, nàng còn ngẫm nghĩ đến tất cả những điều nàng những muốn nói ra để bênh vực Môrit. Vừa mới chợp mắt, nàng bỗng thức dậy; một câu đố cũ thẽ thọt bên tai nàng: "Ngày xưa có một con chó ở trên núi. Nó sủa khắp nước Thụy Điển. Tên nó giống tên mày, tên nó giống tên tao, tên nó giống tất cả mọi người. Tên nó ra sao. Nó tên là Ba Sao." Cái điều bí ẩn rồ dại ấy ngày xưa đã làm rối óc nàng biết mấy! Nàng thấy con chó ấy mới ngu làm sao! Thế nhưng bây giờ trong nửa cơn thức nửa ngủ nàng lại lẫn lộn con chó Ra Sao với Môrit, và nàng thấy như con chó mang cái trán trắng trẻo của chàng. Và nàng cười, nàng cười. Nàng cười cũng dễ mà khóc cũng chẳng khác gì cha nàng vậy...



2


"Cái đó" đã đến với nàng ra sao, cái điều mà nàng chẳng dám gọi lên ấy?

Cái đó có lẽ đã đến với nàng như giọt sương đến với cánh hoa, màu đỏ đến với bông hồng, mật ngọt đến với trái cây, êm ái, vô hình, không hề báo trước. Vả lại có quan trọng gì đâu cái cách nó đến, ai cần biết nó là cái gì! Dù nó ngọt ngào hay cay đắng, tốt đẹp hay xấu xa, nó là điều cấm, là điều lẽ ra không bao giờ được tồn tại. Cái đó quấy rối nàng, dằn vặt nàng, làm cho nàng trở nên tội lỗi và đau khổ. Nàng không muốn nghĩ đến nó nữa. Phải rứt nó ra khỏi tim nàng; khổ thay cái đó lại không để cho người ta nắm lấy được, sờ thấy được. Cái đó đẩy lùi và chiếm chỗ dòng máu trong huyết quản nàng. Nó quay cuồng dọc những đường gân và làm cho những ngón tay nàng run rẩy. Khắp người nàng đâu đâu cũng có nó. Giá thân hình nàng không còn nữa thì nàng tin chắc rằng cái đó vẫn giữ lại là một dấu vết của nàng. Thế nhưng cái đó lại chẳng là gì cả.

Nàng không muốn nghĩ đến nó nữa, thế mà lúc nào cũng vẫn phải nghĩ đến nó. Làm sao nàng lại có thể trở nên xấu xa như vậy? Nàng tự xem xét mình; nàng tự xưng tội; một lần nữa nàng tự hỏi cái đó đã đến như thế nào. Chắc hẳn không phải vào lúc ăn sáng. Khi nàng xuống thì trong phòng ăn chỉ có ông chủ nhà máy đúc và bà hàng xóm. Còn Môrit đâu? Nàng đã phát hoảng khi thấy vắng chàng. Nhưng, nghĩ cho kỹ, Môrit đã khôn ngoan lấy cớ đi săn, mặc dù bà già không hiểu có thể săn gì vào tuần lễ Thánh Jăng này. Chàng đã cảm thấy cần phải lánh đi, để cho ông chú chàng có thời gian nguôi giận. Vả lại, Môrit vốn không nhút nhát nên không hề nghĩ rằng một con người bé nhỏ như nàng sẽ suýt ngất khi không thấy chàng và khi phải ở một mình với bà già và chú Têôđo. Bữa ăn sáng mới nhộn làm sao! Mở đầu, ông chú hỏi bà già có biết câu chuyện nàng Xigrid Xinh Đẹp không. An-Mari nhớ rằng Môrit đã nhạo ông chú vì cả nhà ông chỉ có hai cuốn sách Những truyện cổ của lịch sử Thụy Điển của Afzeliut và Lịch sử phổ thông dùng cho phụ nữ, của Nôxen. Nhưng chú ấy thuộc lòng hai quyển ấy, - chàng đã nói vậy.

An-Maria thấy chuyện nàng Xigrid thật hấp dẫn, nhất là đoạn ông pháp quan Bengt cho đem ngọc quý dát kín cái khổ vải len thô của nàng 1.

An-Maria nhìn thấy Môrit: nàng nghe tiếng chàng ra lệnh đem ngọc quý đến. Chàng mà đóng vai này thì rất đạt. Nhưng khi ông chú kể đến đoạn Bengt chạy trốn vào rừng để người vợ trẻ ở lại chịu cơn thịnh nộ của người anh, thì nàng thấy rõ ràng đây là ám chỉ Môrit; nàng đỏ bừng mặt; dao, nĩa tuột khỏi tay nàng và những dự định mà họ đã bàn tính với nhau suốt dọc đường, thế là tan thành mây khói khi nàng ý thức được sự vụng về và ngu ngốc của mình.

Nhưng ông chú chẳng hề tỏ ra thương hại. Ông cứ tiếp tục kể cho đến đoạn ông bá tước kêu lên: "Nếu em tôi không lấy nàng thì chính ông sẽ lấy". Ông nói câu này với một giọng hài hước đến nỗi nàng bất giác phải ngẩng mặt lên và bắt gặp cái nhìn đùa cợt trong đôi mắt màu nâu của ông.

Ông chủ đã thấy nỗi bồn chồn của nàng và cười sằng sặc như một đứa trẻ. Nàng càng hoảng hốt bao nhiêu thì ông càng cười to bấy nhiêu. Mắt ông càng như nói: "Nếu em tôi không lấy nàng..." Nhưng phải chăng đôi mắt ấy nói: "Nếu cháu tôi..."? Nàng khóc òa lên và vùng chạy ra khỏi phòng... Không, cái đó không phải đã đến vào lúc ấy...

Cũng không phải vào lúc đi dạo trước bữa ăn chiều. Lúc ấy nàng còn chú ý đến những cái khác. Thật là thích thú biết bao khi được dạo khắp cái cơ ngơi giàu có này và cảm thấy gần gũi thiên nhiên đến vậy. Nàng tưởng như được gặp lại một cái gì đã mất từ lâu. Cho đến lúc này, nàng vẫn là một tiểu thư của hiệu bánh mì, một thiếu nữ thành thị; nhưng từ khi đặt chân lên lớp cát ngoài sân thì một cô gái nông thôn đã thức dậy trong người nàng. Lông Tơ hiểu rằng nàng là người của thôn dã. Nàng đi dạo trước thềm. Và dáng đi của nàng trở nên tự do thoải mái hơn. Nàng kéo khăn choàng xuống và đeo mũ ở cánh tay. Hai bàn tay chống nạnh, nàng hít vào thật dài và thật sâu, và lại bắt đầu huýt sáo nữa.

Chà! Nàng cảm thấy mình dũng cảm và bạo dạn biết bao. Lúc đầu nàng muốn đi xuống vườn với dáng khoan thai và thật đúng mực; nhưng đột nhiên nàng bỏ lối đi và bước vào cái sân rộng ở giữa những dãy nhà phụ. Nàng gặp cô gái chăn bò và trao đổi vài câu với cô. Chính nàng cũng lấy làm lạ khi nghe giọng nói chắc nịch và quả quyết của mình: giọng nói của một đội trưởng trước hàng quân. Và nàng tự tạo cho mình bộ điệu rất ngang tàng khi đầu ngẩng cao, tay cầm một cái roi mềm, nàng đi và chuồng bò.

Chuồng bò không giống như nàng tưởng. Chẳng thấy những dãy súc vật có sừng để mình thống trị. Chúng đã ra bãi cỏ hết. Chỉ còn một chú bê con ở lại như chờ được săn sóc. Nàng lại gần, kiễng chân lên, một tay giữ váy, tay kia sờ vào trán con vật. Chú bê như thấy được vậy vẫn chưa đủ bèn thè cái lưỡi rộng ra, và nàng âu yếm đưa ngón tay út cho nó liếm. Bất giác nàng quay nhìn xung quanh để tìm một người chiêm ngưỡng sự dũng cảm của mình. Và nàng trông thấy gì? Ông chủ Têôdo đứng cười ở thềm chuồng bò.

Ông đã cùng nàng đi dạo. Nhưng không phải "cái đó" đã đến vào lúc ấy. Lúc ấy chỉ mới có một điều lạ như thế này đến với nàng: nàng không thấy sợ ông chủ Têôdo nữa. Ở bên ông nàng trở lại bình tĩnh như khi ở bên mẹ: tưởng như ông biết tất cả những khuyết điểm và những chỗ yếu của nàng. Nàng không cần phải giả vờ tỏ ra khác với con người thật của mình.

Ông chủ nhà máy đúc đã hứa dẫn nàng đi xem vườn và mấy mảnh đất dọc bờ ao; nhưng nàng chẳng ưa xem những nơi đó. Nàng muốn xem những gì ở các dãy nhà phụ. Thế là ông không chút ngần ngại đưa nàng đi thăm nơi để sữa, nơi đông lạnh, hầm rượu vang, hầm chứa khoai tây, nhà để thức ăn, nhà để củi, xưởng để xe, nơi giặt là quần áo. Rồi họ đi qua chuồng ngựa cày và chuồng ngựa cưỡi, buồng để yên cương, nơi ở của người hầu và người giữ ngựa, cuối cùng là xưởng mộc. Nàng có hơi bỡ ngỡ trong tất cả những phòng này; nhưng trái tim nàng bừng lên niềm hân hoan khi nghĩ đến hạnh phúc được ngự trị trên cái vương quốc ấy. Và nàng chẳng thấy mệt, mặc dù họ còn đi thăm chuồng cừu chuồng lợn và ngó qua chuồng gà chuồng thỏ. Nàng đã xem buồng dệt, lò rèn và lều xông khói làm thịt giăm bông. Tóm lại, nàng bước từ cảnh mê ly này sang cảnh mê ly khác. Và họ đã đi qua bục chứa đầy cỏ và lá khô cho cừu. Trước tất cả những cảnh làm ăn tuyệt diệu này, nàng ý thức được năng lực nội trợ tiềm tàng trong người mình. Hấp dẫn nàng nhất là nhà giặt rộng thênh thang và hai gian nhà nhỏ xinh xắn sạch sẽ để nướng bánh mì với cái lò rộng hoác và chiếc bàn lớn.

- Ôi! Cái này phải cho mẹ cháu xem mới được! - Nàng kêu lên.

Họ ngồi nghỉ một lát và nàng kể lể chuyện gia đình nhà cửa của nàng. Nàng rất thoải mái kể những chuyện lặt vặt của mình với chú Têôdo như với người bạn cũ, mặc dù đôi mắt nâu của chú như giễu cợt tất cả những điều nàng nói.

Cuộc sống ở nhà nàng phẳng lặng: không náo động, không đổi thay. Lúc bé, nàng quặt quẹo luôn; bởi thế bố mẹ nàng không bao giờ ưng cho nàng thật sự bắt tay vào công việc của hiệu bánh mì...

Trong câu chuyện, có lúc nàng kể rằng bố nàng gọi nàng là Lông Tơ, và nàng nói thêm:

- Cả nhà đều nuông chiều cháu, trừ Môrit; vì thế cho nên cháu yêu anh ấy lắm. Anh ấy thật là đứng đắn. Anh ấy không bao giờ gọi cháu là Lông Tơ, mà luôn luôn gọi An-Maria. Môrit thật tuyệt diệu.

Chao! Nàng thấy rõ biết mấy trong đôi mắt chú có một tia nhảy nhót cười cợt! Nàng những muốn cầm que đánh cho chú một cái. Và nàng nhắc lại, giọng nói như có nước mắt: "Môrit thật tuyệt diệu".

- Phải, chú biết, chú biết, - ông chủ trả lời, - Môrit sẽ là người thừa kế của chú.

Thế là nàng kêu lên:

- Nhưng chú Têôdo, tại sao chú không lấy vợ? Bà chủ của một ngôi nhà như thế chắc sẽ sung sướng biết bao nhiêu!

- Thế còn tài sản thừa kế của Môrit? Ta mà lấy vợ thì việc ấy sẽ ra sao? - Chú Têôdo thì thầm dịu dàng.

... Những lời này làm cho nàng lặng đi một lúc lâu. Nàng không sao nói được rằng Môrit lẫn nàng đều không quan tâm đến việc ấy, bởi vì đó chính là mối quan tâm chủ yếu của họ. Nàng tự hỏi như vậy có đê tiện và xấu xa không; và thốt nhiên nàng cảm thấy như phải xin lỗi chú vì nỗi thiệt thòi mà họ gây ra cho ông.

Khi hai người trở về nhà thì con chó của ông chú ra đón họ. Đó là một con chó cái bé tẹo, cẳng gầy, tai cụp, mắt như mắt linh dương - một con chó bé tí xíu với giọng sủa nghèn nghẹn yếu ớt.

- Chắc cháu ngạc nhiên thấy chú có con chó bé tí như thế này, - ông chủ Têôdo nói.

- Thật thế đấy ạ!

- Không phải ta đã chọn Jenni để nuôi, mà chính Jenni đã chọn ta làm chủ đấy! Cháu có muốn nghe lịch sử của nó không? Lông Tơ?

Ông lập tức giành lấy cho mình cái tên ấy để gọi nàng.

Nàng muốn nghe lắm, nhưng nàng đoán đây lại là một chuyện trêu chọc nữa.

- Lần đầu tiên Jenni đến đây, là trong tay một bà xinh đẹp ở thành phố về. Nó mang trên lưng một cái áo choàng, đầu đội một cái mũ nhỏ. - Im đi, Jenni, mày có thế chứ còn gì nữa! - Lúc ấy chú nghĩ thầm trong bụng : "Thật là một tiểu thư nhút nhát!" Nhưng cháu thử tưởng tượng vừa mới thả xuống đất là con vật bé bỏng chắc phải cảm thấy những kỷ niệm thời thơ ấu thức dậy trong đó, hay là một cái gì đại loại như vậy. Nó gãi, nó co quắp người, nó lăn lộn để làm tuột cái áo choàng ra. Rồi nó bắt chước điệu bộ của chó lợn, làm cho bọn ta nghĩ rằng Jenni chắc chắn là sinh ở nông thôn. Nó nằm lên thềm và không thèm nhìn đến cái tràng kỷ trong phòng khách, nhưng lại chạy đuổi lũ gà mái, ăn vụng của mèo, sủa những người ăn xin và nhảy bổ vào vó ngựa. Rồi đến lúc ra về thì thế là Jenni không chịu đi nữa. Nó rên ư ử một cách khổ sở và nhảy lên lòng chú. Không nghi ngờ gì nữa; nó muốn ở lại. Ai mà đoán được trong con vật bé nhỏ khoác áo choàng này lại có cái thiên hướng làm một con chó thôn quê? Và thế là ta có một con chó bông! Ta chỉ thiếu có một phu nhân xinh đẹp.

Ôi! thật là phiền khi mình nhút nhát và không được dạy dỗ! Chắc ông chú phải ngạc nhiên khi nàng vội vàng chạy đi trong lúc ông đang kể chuyện. Nhưng nàng thấy hình như ông kể chuyện con chó để nói về nàng. Chắc chắn là ông không định làm như thế đâu. Nhưng dù sao...? Nàng cảm thấy thẹn quá đi mất! Có các vàng nàng cũng không thể chuyện trò tiếp được nữa.

Tất nhiên đó cũng chưa phải là lúc "cái ấy" đã đến.

Đúng hơn là nó đã đến vào buổi tối, trong cuộc khiêu vũ. Chưa bao giờ có một dạ hội làm nàng thích đến thế! Tuy nhiên, nàng cũng chẳng nhảy nhiều. Nàng còn hơi bị người ta bỏ quên là đằng khác. Nhưng nàng thích thú quá nên cũng chẳng để ý đến điều ấy nữa. Trước tiên, nàng thấy Môrit đẹp hơn bao giờ hết và trội hơn cả về mọi mặt. Bữa ăn sáng chàng vắng mặt có làm cho nàng hơi mếch lòng; và vì hôm qua nàng đã có lúc cười nhạo chàng, nên bây giờ nàng lại sung sướng được khâm phục chàng nữa. Lúc đầu chàng lo rằng nàng cảm thấy bị hững hờ, bởi vì chàng không chỉ săn sóc riêng một mình nàng. Không! Nàng không đến nỗi ngốc để định phô trương mối tình của họ. Và nàng vui lòng nhận thấy mọi người đều hết sức mến cậu cháu của chú Têôdo. Chàng đã nhảy nhiều lần với cô Elixabet Oetthinh xinh đẹp. Nàng chẳng vì thế mà có chút nào ngờ vực, hơn nữa Môrit đã đến thì thầm vào tai nàng: "Em thấy đấy, anh không thể dứt khỏi cô ấy được. Anh và cô ấy là bạn từ thuở nhỏ. Ở miền quê này người ta chẳng mấy khi được nhảy với một người lịch thiệp vừa biết nhảy vừa biết nói chuyện. Tối nay em phải nhường anh cho các cô tiểu thư này thôi, An-Maria ạ". Còn ông chú thì lẩn mình đi cho Môrit nổi lên. "Tối nay, - ông nói - cháu là chủ của buổi tiếp khách này". Và một mình Môrit làm đủ mọi việc: chàng điều khiển cuộc khiêu vũ, tiếp thức uống cho khách, mời nâng cốc chúc mừng xứ sở và các bà các cô. Chàng thật tuyệt vời. Ông chú và nàng không rời mắt ngắm chàng. Hai cái nhìn gặp nhau; ông chú mỉm cười với nàng và gật đầu thân ái. Cho đến lúc ấy, Lông Tơ vẫn còn buồn vì chú Têôdo đánh giá Môrit không đúng với chân giá trị của chàng. Bây giờ thì nàng đã yên tâm. Ông chú hãnh diện vì cậu cháu. Nhưng lúc gần sáng, ông Têôdo bắt đầu trở nên hơi ồn ào và vui nhộn. Ông muốn xen vào cuộc khiêu vũ, và tất cả các cô gái đều chạy trốn khi ông đến mời họ nhảy hoặc họ giả bộ như đã nhận lời nhảy với một người đàn ông khác.

- Chú nhảy với An-Maria đi! - Môrit nói với ông bằng một giọng hơi trịch thượng.

An-Maria hoảng quá đến nỗi run bắn cả người. Và ông chú bị mếch lòng bèn lui vào phòng hút thuốc.

Nhưng Môrit đã đến gần nàng và nói với nàng bằng một giọng rất nghiêm khắc.

- An-Mari, em sắp làm hỏng hết mọi chuyện, thái độ của em khi chú muốn nhảy với em. Em cũng phải góp sức của em vào chứ. Em thấy để một mình anh làm mọi việc thì có đúng hay không?

- Nhưng anh muốn em làm gì, Môrit?

- Ồ! Bây giờ thì hỏng việc mất rồi. Tất cả những điều anh đạt được tối nay chẳng còn ích gì nữa.

- Em sẽ đến xin lỗi chú, nếu anh muốn, Môrit.

Nàng rất áy náy vì đã làm mếch lòng ông chủ Têôdo.

- Đó có lẽ là điều duy nhất hợp lý; nhưng sao mà em lại nhút nhát đến buồn cười như vậy.

Nàng không đáp lại câu nào và đi thẳng về phòng hút thuốc, ở đó chẳng có người nào, còn ông chú thì đã gieo người vào một chiếc ghế bành.

- Chú ơi, sao chú lại không muốn nhảy với cháu - Nàng nói.

Ông chủ Têôdo mở đôi mắt đang nhắm nghiền và nhìn nàng một lúc lâu. Nàng chưa bao giờ gặp cái nhìn đau khổ như vậy. Một người tù đang nghĩ đến xiềng xích của mình chắc phải có cái nhìn như vậy. Bỗng nhiên nàng thấy có lẽ ông chú rất đáng ái ngại và chính ông mới cần đến nàng hơn là Môrit, bởi vì Môrit thì chẳng cần đến ai cả. Chàng vẫn đường hoàng như thế từ trước đến nay! Nàng đặt bàn tay nhẹ nhàng và vỗ về lên cánh tay ông chủ Têôdo. Mắt ông bỗng trở nên lanh lợi như cũ. Ông đưa bàn tay to rộng của ông lên vuốt ve mái tóc của nàng.

- Mẹ hiền bẹ bỏng của ta! - Ông thì thầm.

Thế là "cái đó" đã đến trong khi ông vuốt ve mái tóc nàng. Nó đến một cách lén lút. "Cái đó" đã trườn vào, đã tuôn vào nàng với một giọng run rẩy, một tiếng sột soạt, một âm thanh rì rào của bọn yêu tinh lướt qua cánh rừng đêm âm u.



3


Những làn mây mỏng xốp giăng kín bầu trời; buổi tối rất yên tĩnh và êm ả; những sợi lông trắng nhỏ li ti của cây bạch dương và cây hoàn diệp liễu bay lơ lửng bồng bềnh trong không khí. Một mình trong đêm khuya, ông chủ Têôdo đi bách bộ trong vườn và nghĩ cách tách chàng trai ra khỏi cô gái. Bởi vì không thể nào, mãi mãi không thể nào, họ lại sẽ cùng nhau ra đi, trong khi ông sẽ đứng trên bậc thềm để chúc họ lên đường may mắn.

Làm sao thậm chí có thể cho nàng ra đi bằng bất cứ cách nào, khi mà đã ba ngày nay cả ngôi nhà tràn đầy giọng nói vui vẻ ríu rít của nàng; khi mà mọi người trong nhà đều cảm thấy xung quanh mình có con người nhỏ nhắn và cẩn trọng. Không thể như thế được! Chú Têôdo không thể thiếu được nàng nữa.

Đêm không lạnh, đêm ở miền bắc này thường như thế. Hơi nóng được giữ lại dưới lớp mềm mây xám. Những ngọn gió lạnh vẫn ở yên đâu đó, không thổi bạt mất hơi ẩm đi.

Ông chủ Têôdo nhìn thấy Lông Tơ trước mắt mình. Nàng khóc vì Môrit đã lìa khỏi nàng. Nhưng ông kéo nàng lại sát người ông và hôn cho đến khi nước mắt nàng không còn chảy nữa. Từ những trái cây già tách ra những sợi lông tơ nhỏ, nhỏ quá, nhẹ quá, mỏng manh đến nỗi hầu như bị không khí giữ lại không rơi xuống được và thật khó mà phân biệt được chúng trên mặt đất.

Ông chủ nhà máy đúc cười một mình khi nghĩ đến Môrit. Sáng mai ông sẽ vào phòng cậu và hỏi: "Này Môrit, chú không muốn cho cháu hy vọng hão. Nếu cháu cưới cô gái ấy thì đừng hòng đợi chú cho một xu. Chú không thể góp phần làm hỏng tương lai của chú".

"- Cô ấy làm chú không vừa lòng đến thế ư? - Môrit sẽ hỏi ông như vậy.

"- Trái lại, cô ấy hiền lành đấy, nhưng không là gì cả đối với cháu. Cháu phải lấy một người vợ ra vợ như Êlizabet Oetthinh. Cháu nên biết điều, Môrit ạ, đừng bỏ dở việc học tập của cháu vì cô gái này. Cháu sẽ không bao giờ làm được một ông chủ nhà máy đúc. Không phải chỉ biết cất mũ một cách duyên dáng và nói: "Cảm ơn, các bạn thân mến của ta!" là đủ đâu. Không! Cháu phải được đào tạo để trở thành một viên chức hoặc có thể là một bộ trưởng!

"- Nếu chú đánh giá cao như vậy, thưa chú - Môrit sẽ trả lời - thì chú hãy giúp cháu thi đỗ rồi cho phép chúng cháu cưới nhau sau.

"- Không được, không được. Sự nghiệp của cháu sẽ ra sao nếu chưa chi cháu đã tự buộc cháu dính vào một gánh nợ như vậy? Con ngựa mà phải kéo những gánh nặng bánh mì thì không thể chạy được nhanh. Cháu không thể đính hôn trước mười năm; nếu chú để cho chúng mày làm cái việc ngu xuẩn ấy thì rồi sẽ ra sao? Rồi năm nào chúng mày cũng sẽ đến xin tiền tao. Rồi thì cả chúng mày lẫn tao đều sẽ hận nhau.

"- Nhưng thưa chú, cháu là người trung thực, cháu đã hứa hẹn với người ta rồi.

"- Cháu hãy nghe chú, Môrit ạ. Xem thử thế nào thì hơn? Để cho cô ấy chờ đợi cháu mười năm, rồi sau mười năm cháu sẽ chán nó? Hay là để cho cháu cắt đứt ngay từ bây giờ? Hãy quả quyết lên một chút, con ạ! Dậy đi, cho thắng ngựa vào xe và đi ngay trước khi cô ấy thức dậy.Vả lại tao thấy vợ chồng chưa cưới mà đi một mình với nhau như vậy thì khó coi lắm đấy. Chú sẽ lo liệu cho cô ấy, chỉ cần cháu từ bỏ sự điên rồ của cháu là được. Bà hàng xóm của chú sẽ đưa cô ấy về nhà, trong chiếc xe song mã, có mui kín nếu cháu muốn như vậy. Và chú sẽ chu cấp cho cháu ở trường đại học, làm sao cho cháu khỏi phải lo về tương lai của cháu. Cháu phải biết điều và phải nghe lời chú. Bố mẹ cháu sẽ rất hài lòng. Cháu đi đi. Chú sẽ nói cho cô ấy nghe rõ phải trái và chú tin chắc rằng cô ấy sẽ không muốn làm một vật chướng ngại cho hạnh phúc của cháu. Đi đi, đừng cố gặp lại cô ấy nữa. Có thể cháu sẽ lại mủi lòng vì cô ấy rất dễ thương..."

Thế là Môrit dũng cảm quyết định ra đi.

Môrit đi rồi thì sẽ ra sao nữa?

- "Đồ đê tiện". - Có tiếng kêu cứu ở trong vườn, một tiếng kêu to và dữ tợn như là để dọa một tên kẻ trộm. Ông chủ Têôdo nhìn xung quanh mình. Ai nói đấy? Có phải là tự ông gọi ông như vậy không?

Rồi thì sẽ ra sao?...

Ồ, ông sẽ chuẩn bị tư tưởng cho nàng trước khi nàng biết Môrit đã đi rồi. Ông sẽ chứng minh cho nàng thấy rằng Môrit không xứng đáng với nàng. Nàng sẽ khóc, nhưng khi nàng đã cạn hết nước mắt trên ngực ông thì ông sẽ làm cho nàng hiểu một cách rất dịu dàng và rất thận trọng tình cảm của ông đối với nàng; ông sẽ yêu nàng, ông sẽ thu phục được nàng...

Những sợi tơ của cây hoàn diệp liễu vẫn rơi. Ông chủ Têôdo giơ bàn tay to rộng của ông nắm được một sợi tơ rất đỗi nhẹ, rất đỗi mỏng manh và yếu ớt, và ông cứ nhìn sợi tơ ấy mãi. Những túm lông tơ cứ rơi. Rồi cái gì đến? Gió sẽ thổi bạt nó đi, đất sẽ làm bẩn nó, những bàn chân nặng nề sẽ dẫm lên nó. Những túm lông tơ nhỏ bé rơi lên người ông chủ Têôdo, bây giờ ông thấy như nó nặng bằng chì. Ai đấy sẽ muốn làm cơn gió hay là đất hay là cái đế giầy tàn nhẫn?

Là độc giả say mê quyển Lịch sử phổ thông của Nôxen, ông bỗng nhớ đến một đoạn giống với điều ông tưởng tượng vừa rồi. Buổi sáng hôm ấy, nàng Arian ngủ dưới hang đá ở Naxot; và thần Bắcquýt, trên vai vắt tấm da beo, nhìn theo những cánh buồm đen của Têdê chạy về phía chân trời. Bắcquýt đã đe dọa Têdê trong một giấc mộng nếu Têdê không lìa bỏ cô gái và Têdê đã kéo neo bỏ chạy nên không kịp đánh thức cô gái đang ngủ nữa. Thần Bắcquýt chí tôn sung sướng và kiêu hãnh. Thần sẽ biết cách khuyên giải được Arian. Nàng đang đến; nàng đi từ hang đá ra, hồng hào và rạng rỡ; mắt nàng tìm kiếm Têdê, nàng nhìn quanh nàng rồi nhìn ra xa hơn chỗ con thuyền của Têdê đậu, rồi nhìn xa hơn nữa, trên những ngọn sóng, nơi xa xa kia, nơi những cánh buồm đen đang đi khuất. Nàng kêu thét lên, rồi không chần chừ, lao thẳng xuống biển, lao vào cái chết và chốn lãng quên. Và thần Bắcquýt , kẻ an ủi tài ba ấy ở lại một mình. Chuyện đã xảy ra như vậy đấy.

Nôxen cũng nói rằng một số nhà thơ cổ, do lòng thương xót đã tưởng tượng thêm rằng Bắcquýt đã khuyên bảo được Arian. Nhưng những nhà thơ giàu lòng trắc ẩn này đã lầm. Bắcquýt đã không an ủi được nàng. Không ai an ủi được Arian cả...

Vậy thì nỗi đau đớn phải lìa bỏ vị hôn phu của nàng sẽ là phần thưởng cho những nụ cười duyên dáng mà nàng tặng ông, cho những cái vuốt ve của bàn tay thon thả mà nàng ngây thơ đặt trong tay ông, cho thái độ vui vẻ của nàng khi nghe những lời ông bông đùa.

Vì tội gì mà nàng sẽ bị xử phạt như vậy? Vì đã làm cho ông phát hiện được trong bản thân mình một ngóc ngách của tâm hồn còn thanh khiết và còn bỏ trống và đang chờ đợi một con người giàu tình mẫu tử và dịu dàng - hay vì nàng đã chế ngự được ông đến nỗi ông không còn dám chửi thề trước mặt nàng nữa? Ông chủ Têôdo phát điên lên vì số phận hẩm hiu của mình.

Cái cô bé An-Maria này, sao cô lại không phải là một người có vóc dáng lực lưỡng với đôi má hây hây mà mái tóc đen! Quả thật không dễ dàng gì khi phải xử trí với những con người mảnh mai, yếu ớt và trong suốt như những sợi lông tơ!

Và đúng lúc ấy, một sợi lông tơ rơi xuống và nói với ông: "Em sẽ ngày nào cũng ở bên anh. Anh sẽ nghe em nói thầm vào tai một lời nhắc nhở khi anh ngồi đánh bạc; em sẽ giữ bàn tay anh chờ luôn nâng cốc rượu tràn đầy. Và anh sẽ khổ vì em như vậy đấy".

"- Đúng, - ông thì thầm, - vì em, anh sẽ chịu đựng được nỗi khổ ấy..."

Một sợi tơ thứ hai rơi xuống và nói: "Em sẽ ngự trị trong ngôi nhà rộng lớn của anh và em sẽ làm cho đời sống tiện nghi, không khí ấm cúng trong nhà thêm thân thiết. Em sẽ đi theo anh trong cảnh cô đơn của tuổi già. Em sẽ nhen lửa trong lò sưởi của anh. Em sẽ là đôi mắt và chiếc gậy cho anh dùng. Anh không tin như vậy ư?

"- Có chứ, lông tơ bé nhỏ, anh tin như vậy - ông trả lời, - anh tin như vậy.

Và đây lại thêm một sợi tơ nữa nói: "Em đau khổ quá. Ngày mai vị hôn phu của em sẽ bỏ đi mà không nói với em một lời từ biệt. Ngày mai em sẽ khóc suốt cả ngày. Em sẽ khóc vì xấu hổ nghĩ rằng em không xứng đáng với Môrit. Và khi trở về nhà, em không biết làm sao có được can đảm bước qua ngưỡng cửa nhà bố em. Suốt dọc đường phố nhỏ người ta sẽ xì xào khi em đi qua; mọi người sẽ tự hỏi em đã làm gì để bị đối xử như vậy. Anh yêu em thì đó có phải là lỗi của em đâu?

Và ông trả lời giọng đầy nước mắt:

"- Em đừng nói như vậy".

Ông tiếp tục bước trong vườn. Đến nửa đêm, trời hơi tối đi một chút; ông cảm thấy lòng thắt lại vì lo âu; làn không khí nặng nề và ngột ngạt này như ngưng lại để chờ đón một việc không hay đang được sửa soạn và sẽ được thực hiện vào lúc rạng đông.

Ông những muốn làm cho thiên nhiên dịu lại và nói to lên: " Ta sẽ không làm việc ấy"

Thế là xảy ra cái điều kỳ lạ nhất trên đời. Những làn gió run rẩy lo âu lướt qua đêm tối. Đó chẳng phải là những túm lông tơ nhỏ đang rơi xuống như mưa nữa. Ông nghe thấy xung quanh mình những tiếng sột soạt của những đôi cánh nhỏ và của những đôi cánh lớn. Một cái gì đang chạy trốn ấy lướt chạm vào mặt ông, quệt vào quần áo và bàn tay ông. Đó là những lá cây, những cánh bướm, những tiếng chim hót. Ông hiểu rằng khi mặt trời ló ra, cả khu vườn của ông sẽ tan hoang, im lìm và lạnh lẽo. Trời hửng sáng, ông hầu như ngạc nhiên thấy trong vườn vẫn còn những mảng lá cây đen sẫm. Vườn ông chẳng thiếu đi một ngọn cỏ nào. Chẳng phải là khu vườn đã trụi hết cây cối: mà chính là ông; ông đi vào mùa đông, và ông đã mất hết lòng can đảm để sống.

" Phì, - ông nói, - cái đó rồi sẽ qua đi như tất cả mọi cái đều qua đi. Thật rõ lắm chuyện vì một đứa con gái bé nhỏ này!...



4


Buổi sáng nay, cái điều kỳ lạ mà nàng không muốn xác định ấy đã giày vò nàng. Trong hai ngày tiếp theo cuộc khiêu vũ, cái đó đúng là như một chất kích thích như một nguyên nhân làm cho người ta hăng hái, nhưng bây giờ đã đến lúc phải ra về, bây giờ đã chắc chắn là "cái đó" sẽ không có vai trò gì trong cuộc đời nàng thì "cái đó" đã chuyển thành một gánh nặng lạnh lẽo đến chết người. Nàng tưởng như trong khi đi xuống ăn sáng, nàng phải lê một tấm thân bại liệt. Bàn tay nàng đưa ra nặng trĩu và lạnh ngắt. Nàng nói, một cách khó khăn với cái lưỡi nặng như chì, và mỉm cười với đôi môi trơ như đá. Gượng nói gượng cười là cả một công việc vô cùng nặng nhọc. Và thật vui mừng thấy mọi việc đã được thu xếp ổn thỏa theo đúng danh dự cổ truyền và đúng lời cam kết.

Ông chủ Têôdo quay mặt về phía An-Maria và tuyên bố với một giọng nghiêm khắc lạ lùng, rằng ông đã quyết định cho Môrit giữ chân quản lý ở Lavahytham. "Nhưng vì chàng trai này, - ông nói tiếp, vừa cố lấy lại giọng nói bình thường, - vì chàng trai này không thành thạo lắm trong công việc thực tế, cho nên anh ta chỉ có thể giữ chức vụ này sau khi cưới vợ. Tiểu thư Lông Tơ có chăm sóc cây đào kim nhưỡng ở cửa sổ nhà mình để có thể hái được một vòng hoa cho cô dâu vào tháng chín hay không?"

Nàng cảm thấy đôi mắt của ông chủ Têôdo dò xét nét mặt của nàng và đợi có được một cánh mắt cảm ơn; nhưng nàng lại cúi đầu xuống.

Còn Môrit, anh ta nhảy cẫng lên. Anh ta ôm hôn ông chú và làm ầm ĩ một hồi.

- Kìa, An-Maria, em không cảm ơn chú à? Em phải hôn chú đi. An-Maria! Lavahytham, đó là nơi tuyệt nhất trần đời đấy. Nào, An-Maria.

Nàng ngước mắt lên. Mắt nàng đẫm lệ, và xuyên qua cái tấm màn trời này, cái nhìn của nàng rơi xuống Môrit chứa đầy vẻ bồn chồn và trách móc lặng lẽ. Rồi nàng quay sang ông chú Têôdo; nhưng không phải với dáng điệu rụt rè và trẻ con như trước nữa. Bây giờ, nàng có đôi chút cao thượng do đau khổ gây nên.

- Chú giúp đỡ chúng cháu quá nhiều, - nàng chỉ trả lời như vậy.

Mọi việc đều tốt đẹp. Ông chủ Têôdo đã không tước mất của nàng lòng tin vào con người nàng yêu dấu. An-Maria đã không tự phản bội mình. Nàng vẫn giữ được lòng trung thành với người đã chọn nàng làm vị hôn thê, mặc dù chỉ là cô gái nhỏ nghèo hèn của hiệu bánh mì trong một phố xép.

Chiếc xe đã có thể lên đường, mấy cái vali đã cài khóa; thức ăn đang được chất vào giỏ. Ông chủ Têôdo rời bàn ăn. Ông đến đứng trước khung cửa sổ. Từ lúc nàng ngước đôi mắt đẫm lệ nhìn ông, ông không tự chủ được nữa. Tưởng như ông sẽ có thể chạy ùa lại nàng, giữ nàng trong cánh tay ông và thét lên với Môrit: "Đến đây mà giành lấy cô ấy đi!..."

Những cơn co giật thần kinh chạy khắp hai bàn tay nắm chặt của ông để trong túi quần mà ông cứ giữ mãi không chịu rút ra. Ông sẽ để cho nàng đội mũ vào chăng?

Tại sao ông không bước lên và không nói với Môrit: "Nghe đây, ta là tình địch của người. Hãy để cho vị hôn thê của người lựa chọn một trong hai ta! Các người chưa cưới nhau kia mà... "Thử chinh phục nàng chẳng phải là một tội ác". Ông nắm chặt bàn tay đến nỗi khớp xương kêu răng rắc.

Chao, Môrit sẽ tha hồ cười khinh cái ông chú già nua si tình! Còn ông, thì ông sẽ thu được kết quả gì? Ông sẽ làm cho An-Maria sợ hãi và nàng sẽ không muốn nhận sự giúp đỡ của ông nữa khi nàng đã kết hôn.

Ông cứ đứng nguyên ở khung cửa sổ, không quay mặt lại. Sau lưng ông, họ sửa sang quần áo, họ làm nốt những việc chuẩn bị để lên đường. Họ sẽ không bao giờ đi nữa hay sao? Ông đã sống đến nghìn lần cái giây phút hệ trọng này. Ông đã bắt tay NÀNG. Có lẽ nàng đã đi được xa lắm rồi!... Ông cũng đã chúc nàng hạnh phúc, rất nhiều hạnh phúc. Nàng sẽ có tìm được hạnh phúc bên Môrit không? Sáng nay nàng có vẻ không vui. Nhưng không phải đâu! Lúc nãy nàng khóc, chắc là vì vui quá đấy...

Ông bỗng nghe Môrit nói với An-Maria:

- Đầu óc anh lú lấp thế này! Tí nữa thì anh quên không nói cho chú về những cổ phiếu của bố!

- Anh đừng nói chuyện ấy với chú thì hơn anh ạ - nàng trả lời. - Em thấy làm thế sẽ không hay đâu.

- Sao em ngốc thế, An-Maria! Hiện nay thì những cổ phiếu ấy chẳng có lời lãi gì, nhưng biết đâu? Có thể nó lại sẽ lên giá. Vả lại, đối với chú thì đây chỉ là chuyện vặt có đáng kể gì.

Nàng ngắt lời anh ta một cách hăng hái khác thường, và gần như là với vẻ kinh hãi.

- Em van anh, Môrit, anh đừng làm thế! Anh hãy nghe lời em, một lần này thôi.

Anh ta nhìn nàng có vẻ hơi phật ý.

- Một lần này thôi!... Làm như anh là một bạo chúa ấy...Em đã nói một lời thừa: anh không thể nhượng bộ được...

- Anh đừng bắt bẻ lời nói, Môrit ạ. Đây là chuyện lớn hơn nhiều chứ không phải là chuyện lời lẽ hay là chuyện lịch sử. Em thấy trong chuyện này chú đối xử với chúng mình tốt như vậy mà lại muốn đánh lừa chú thì chẳng đẹp đẽ gì.

- Này, im đi, An-Maria, em im đi! Em chẳng hiểu tí gì về chuyện làm ăn cả!

Anh ta vẫn bình tĩnh, bình tĩnh đến làm cho người ta tức lộn ruột, cứ thản nhiên như không. Anh ta coi nàng như một ông giáo đối với một anh học trò phạm lỗi ngay trong ngày sát hạch.

- Vậy ra anh không hiểu cái gì bị tổn thương cả, - nàng kêu lên, vừa hất tay như để đẩy lùi một cái gì.

- Anh phải nói chuyện với chú ngay, - Môrit nói - Ít nhất cũng để cho chú thấy rằng, không ai định đánh lừa chú bao giờ. Theo như em thì có lẽ bố anh và anh là những tên đểu giả.

Anh ta tiến đến gần chú Têôđo và nói chuyện về những cổ phiếu mà bố anh định bán cho ông. Ông chủ Têôdo nghe anh nói câu được câu chăng. Ông hiểu ngay rằng ông anh của ông, ông thị trưởng, đã bị một chuyến đầu cơ thất bát và đang tìm cách chống đỡ một vố thua thiệt không sao tránh được. Có nghĩa lý gì? Những việc như vậy ông vẫn thường giúp đỡ mọi người trong gia đình. Ông cũng chẳng nghĩ gì đến việc ấy nữa. Bây giờ tâm trí ông đang mải nghĩ về An-Maria.

Ông đã bắt gặp ánh mắt giận dữ của nàng nhìn Môrit - hẳn đó chẳng phải là một cái nhìn yêu thương! Giữa nỗi thất vọng của ông, một ánh sáng yếu ớt bắt đầu lóe lên. Ông giống như một người đang ở trong ngôi nhà có ma và thấy từ sàn nhà hiện lên một làn hơi màu sáng, làn hơi ấy tụ lại, to dần lên và trở thành một thực tế sờ thấy được.

- Hãy theo chú vào buồng giấy của chú, Môrit, - ông nói, - Chú sẽ đưa tiền cho cháu!

Vừa nói câu này, ông vừa đưa mắt nhìn Lông Tơ. Cái bóng ma vừa hiện lên kia sẽ quyết định lên tiếng chăng? Song, ông chỉ nhận thấy ở nàng một nỗi tuyệt vọng lặng lẽ.

Nhưng ông vừa ngồi vào bàn giấy thì cửa mở, An-Maria bước vào.

- Chú Têôdo, - nàng nói một cách vững vàng và dứt khoát! - Chú đừng có mua những tờ giấy ấy!

Ôi, Lông Tơ bé nhỏ, có ai ngờ em lại dũng cảm đến thế! Mới cách đây ba ngày, em còn ngồi trong chiếc xe bò bên cạnh Môrit, và cứ một câu anh ta nói thì em lại nép mình lại cho nhỏ thêm và muốn không ai nhìn thấy mình!

Môrit nổi cáu. Anh ta khẽ rít lên với nàng "Im đi!" Và trong khi ông chủ Têôdo đang đếm giấy bạc, anh ta thét to:

- Em làm sao thế? Những cổ phiếu này hiện nay chưa lời lãi gì cả, anh đã nói với chú như vậy, nhưng chú cũng thừa biết như anh rằng một ngày nào đó nó sẽ sinh lời. Em tưởng rằng chú để cho người ta đánh lừa được sao? Chú hiểu những chuyện này hơn em rất nhiều. Anh có bao giờ có ý lừa chú rằng những cổ phiếu này là tốt đâu? Nhưng chúng có thể trở nên tốt đối với ai biết chờ đợi!

Ông chủ Têôdo chẳng nói gì cả, - ông chỉ trao cho Môrit một tập giấy bạc.

- Chú ơi, - con người đấu tranh không khoan nhượng cho chân lý tiếp tục nói (quả thật không ai bướng bỉnh hơn những con người mảnh dẻ này, một khi họ đã bị kích động và dứt bỏ được tính nhút nhát), - chú ơi những cổ phiếu này không đáng giá một xu và sẽ không bao giờ có giá trị gì hết. Ở nhà chúng cháu đã biết rất rõ như vậy.

- An-Maria, cô muốn biến tôi thành một kẻ đểu giả à!

Đôi mắt của cô gái giống như những lưỡi kéo; chúng cắt; và cứ từng miếng một, chúng cắt hết tất cả những gì cô đã khoác lên con người anh ta. Và cuối cùng khi cô thấy anh ta hiện nguyên hình với thói hợm hĩnh và ích kỷ của mình, thì cái lưỡi nhỏ bé ghê gớm của cô đọc lên lời phán quyết tối hậu:

- Anh không phải thế thì là gì?

- An-Maria!

- Phải, cả hai chúng ta là gì? - Cái lưỡi nhỏ không thương xót tiếp tục nói.

Lông Tơ đã hết cả tính nhút nhát; bây giờ nàng cảm thấy cần phải làm sáng tỏ những ý nghĩ mơ hồ đã giày vò lương tâm nàng, từ khi nàng ngờ ngợ rằng con người giàu có và thế lực này có thể có một trái tim, một trái tim, một trái tim đau khổ và dịu dàng.

- Phải, - Nàng nói tiếp. - Chúng ta là gì? Khi ngồi lên xe, chúng ta đã nghĩ gì? Trên đường đi, chúng ta đã nói chuyện gì? Anh đã nói với tôi rằng tôi phải khôn khéo và mưu mẹo. Chúng ta đã mong thu lợi được thật nhiều mà chẳng phải mất một tí gì. Chúng ta đã đến không phải để nói: chú hãy giúp chúng cháu, vì chúng cháu nghèo và chúng cháu yêu nhau. Không, chúng ta chỉ có ý muốn nịnh nọt và vuốt ve để len lỏi vào cảm tình của chú Têôdo. Chúng ta đã không có ý định trả lại cho chú một tí gì, tình thương yêu cũng không, lòng quý mến cũng không, cả sự biết ơn cũng không nốt. Vậy tại sao anh lại không đi một mình? Tại sao tôi lại phải đi với anh? Anh muốn đưa tôi ra phố, anh muốn rằng tôi...

Ông chủ Têôdo nhỏm dậy khi thấy Môrit giơ tay lên định đánh nàng. Ông đã theo dõi cảnh tượng, lòng tràn đầy hy vọng. Ông thấy như lòng mình mở rộng ra để đón lấy nàng, khi nàng thốt lên một tiếng kêu và bay thẳng vào cánh tay ông. Nàng bay vào không do dự, không suy nghĩ, như thể nàng chỉ còn một chỗ ẩn náu trên đời.

- Chú ơi, hắn muốn đánh cháu!

Và nàng nép mình thật sát vào ông.

Nhưng Môrit đã lấy lại bình tĩnh.

- Tha lỗi cho sự hung bạo của anh, An-Maria, - anh ta nói. - Anh đã đau khổ khi nghe em nói như vậy trước mặt chú. Nhưng rất may là chú sẽ hiểu rằng em chỉ là một đứa trẻ. Tuy nhiên anh thú nhận rằng sự tức giận dù chính đáng bao nhiêu cũng không cho phép đánh một người phụ nữ. Bây giờ em hãy lại hôn anh đi. Em không cần phải tìm ai bảo vệ để chống lại anh cả.

Nàng không nhúc nhích, nàng không quay lại, nàng chỉ càng níu chặt hơn lấy ông chủ Têôdo.

- Lông Tơ, ta sẽ để cho em bị giành lại chăng? - Ông thì thầm.

Nàng chỉ trả lời bằng cái run rẩy làm cho ông run lên; nhưng ông cảm thấy mình chưa bao giờ mạnh mẽ, khỏe khoắn và can đảm như bây giờ; và ông chẳng sợ gì mà không đùa cợt.

- Môrit, cháu làm chú ngạc nhiên đấy; tình yêu làm cháu trở thành nhu nhược. Sao cô ấy dám gọi cháu là kẻ đểu giả mà cháu lại tha thứ à? Cháu hãy nghĩ đến danh dự của mình, và hãy lập tức cắt đứt sự cam kết với cô ấy. Này, hãy lên xe và ra đi một mình! Bị lăng nhục như thế thì xử sự như vậy là đúng rồi.

Ông đưa hai tay ôm lấy đầu An-Maria và nâng nàng lên để hôn vào trán.

- Hãy bỏ quách cô gái phạm tội này! - Ông nhắc lại.

Môrit bắt đầu hiểu. Anh ta nhìn thấy ánh mắt chế giễu và nụ cười trên môi ông.

- Lại đây với anh, An-Maria.

Nàng rùng mình. Anh ấy gọi nàng, và anh ấy là người mà nàng đã đính ước. Nàng phải phục tùng. Nàng đột ngột buông ông chủ Têôdo ra, nhưng nàng không thể đi được một bước, nàng khụy xuống một chiếc ghế dựa và nức nở khóc.

- Môrit, cháu hãy trở về một mình trên chiếc xe của cháu, ông chủ Têôdo nghiêm khắc nói. Cô gái này đang ở trong nhà chú, và chú muốn bảo vệ cô ấy khỏi sự hung hãn của cháu.

- A! Chàng trai kêu lên! - Đây là một âm mưu. Tôi bị phản bội. Người ta cướp vị hôn thê của tôi và người ta nhạo báng tôi... Cô vớ bở đấy, An-Maria và tôi xin chúc mừng cô.

Anh ta vừa đâm bổ ra ngoài vừa nói thêm với nàng.

- Đồ hám của!

Ông chủ Têôdo định chạy theo anh ta, nhưng Lông Tơ giữ ông lại.

- Không, không. Để cho anh ấy đi. Để cho lẽ phải về phần anh ấy! Môrit bao giờ cũng có lý. Em chỉ là một kẻ hám hạnh phúc!

Ôi! Lông Tơ, cánh hoa mượt mà! Em không chỉ là kẻ hám hạnh phúc, em còn là người ban hạnh phúc. Người ta cảm thấy điều đó, giờ đây khi đi lại trong ngôi nhà mà em đã ở. Mảnh sân vẫn luôn rạp bóng dưới những cây thích to và những thân cây phong vẫn vươn lên một màu trắng tinh, không một vết gợn, suốt từ gốc lên đến ngọn. Hôm nay, nằm yên sưởi nắng trên bức tường dài và trong cái ao giữa vườn vẫn có những con cá chép già, già đến nỗi không ai nỡ thả cần câu. Và khi tôi đến đây, tôi luôn được hít thở không khí ngày lễ và ngày chủ nhật; và ta tưởng như chim và hoa đang cất tiếng hát dịu dàng để tưởng nhớ em.


NGỌC THỌ dịch
--- ------ ------ ------ -------

1 Viên pháp quan Bengt Manhuxon, trái ý muốn của gia đình, đã lấy một cô gái rất nghèo và dòng dõi rất hèn hạ nhưng rất xinh đẹp, tên là Xigrid. Anh ông, một bá tước, đã gửi cho cô dâu một cái váy bằng lụa đẹp có một khổ bằng vải len thô. Ông pháp quan lập tức ra lệnh lấy ngọc quý dát kín khổ vải ấy. Sau đó, khi ông bá tước đến nhà em và trông thấy em dâu xinh đẹp quá, ông cho rằng cuộc hôn nhân này thật xứng đáng nên đã kêu lên - đây là một câu nói lịch sử: "Nếu em tôi không lấy nàng thì chính tôi sẽ lấy!"


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
       
Có bài mới 21.04.2017, 16:23
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 29 Nữ
Bài viết: 16330
Được thanks: 4281 lần
Điểm: 9.07
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tập truyện ngắn] Chiếc xe của thần chết - Selma Lagerlöf - Điểm: 10
MỎ BẠC

Vua Guixtavơ Đệ Tam đang ngự giá tuần du trong vùng Đalêcarli. Bị thời gian thúc bách, nhà vua muốn lúc nào cũng đi thật mau. Xe nhà vua phóng nhanh đến mức mấy con ngựa trông như những cái dải căng dài trên đường và khi đến những chỗ rẽ chiếc xe chỉ còn lăn trên hai bánh. Tuy vậy nhà vua vẫn thò đầu ra ngoài cửa và thét bảo người đánh xe:

- Tại sao nhà ngươi bắt ta đi chậm thế? Ngươi tưởng xe của người chở trứng đấy à?

Cứ đi mãi trên những con đường xấu với tốc độ khủng khiếp như thế, thật là kỳ diệu nếu cái xe và bộ cương thắng không việc gì. Nhưng làm sao mà giữ mãi được như vậy; đến chân một cái dốc ngược, càng xe bị gãy, thế là nhà vua phải dừng lại trên đường. Các quan hộ giá vội vàng nhảy xuống đất, thét mắng anh đánh xe; tuy nhiên xe hỏng vẫn hoàn hỏng. Xe chưa chữa được thì chẳng có cách nào tiếp tục đi cả.

Các thị thần đưa mắt nhìn quanh xem có gì để nhà vua tiêu khiển trong lúc chờ đợi không thì thấy ở cách đó xa một chút, trên đường đi, một cái tháp chuông nhô lên khỏi lùm cây. Họ bèn tâu với nhà vua tạm ngồi lên một chiếc xe nhỏ của đoàn hộ giá để đi đến nhà thờ. Hôm ấy là chủ nhật và nhà vua có thể xem lễ mixa để giết thời giờ cho đến khi chiếc xe rồng được chữa xong.

Nhà vua bằng lòng và lên xe đi về phía nhà thờ. Cho đến lúc này, nhà vua đã đi trên đường suốt một thời gian dài và ở đâu đâu nhà vua cũng chỉ thấy những khu rừng tốt bát ngát, nhưng ở nơi đây phong cảnh vui mắt hơn; bên những cánh đồng khá rộng và những làng mạc, con sông Đalep chảy giữa vô vàn cây trăn, nước trong veo và rực rỡ.

Nhưng nhà vua thật không may, đúng lúc xuống xe ở quảng trường trước nhà thờ, nhà vua nghe tiếng người hát lễ ngân nga bài thánh thi bế mạc và thấy công chúng đang bắt đầu ra về. Thấy họ đi ngang qua, nhà vua dừng lại, một chân còn ở trong xe, chân kia đặt trên bậc lên xuống và cứ đứng im như thế mải mê nhìn cảnh tượng trước mắt. Chưa bao giờ nhà vua thấy những người chững chạc như vậy. Đàn ông thì cao hơn tầm trung bình, vẻ mặt nghiêm trang, thông minh, còn đàn bà thì có dáng đi đường hoàng uy nghi, dường như cảnh thanh bình của ngày chủ nhật phản ánh vào mọi cử chỉ của họ.

Suốt ngày hôm nay, nhà vua đã than thở về cảnh hiu quạnh của vùng mà ngài đi qua và đã nói đi nói lại với đoàn hộ giá:

- Có lẽ trẫm đang đi qua vùng nghèo khổ nhất của vương quốc?

Nhưng bây giờ khi thấy dân chúng mặc y phục dân tộc rất đẹp, nhà vua hoàn toàn không nghĩ tới tình trạng nghèo khổ của họ nữa. Trái lại, nhà vua thấy trong lòng ấm hẳn lên và tự nhủ: "Tình thế của vua Thụy Điển chưa đến nỗi quá xấu như kẻ thù tưởng đâu. Chừng nào thần dân của ta trông còn được như thế kia thì ta vẫn hoàn toàn có thể bảo vệ ngai vàng và đất nước của ta."

Theo lệnh nhà vua, các thị thần loan báo cho những người qua đường rằng người lạ mặt vừa mới tới chính là Đức vua của họ và bảo họ tập hợp để ngài truyền phán.

Và nhà vua hiểu dụ dân chúng. Ngài đứng nói ở trên đầu cầu thang dẫn vào kho đồ thánh, và cái bậc thang nhà vua đứng đến nay vẫn còn.

Nhà vua bắt đầu trình bày tình hình nước nhà đang hết sức xấu. Ngài nói rằng Thụy Điển đang bị cả quân Nga lẫn quân Đan Mạch tấn công. Giá vào lúc khác thì không có gì nguy hiểm lắm, nhưng hiện nay trong quân đội Thụy Điển có nhiều kẻ phản trắc đến nỗi ngài không dám tin vào đội quân ấy nữa. Chính vì thế mà ngài không còn cách nào khác là thân hành đi tuần du khắp nước để hỏi thần dân muốn đi theo bọn phản bội hay là vẫn muốn trung thành với vua và cung cấp cho nhà vua nhân tài vật lực để cứu nước.

Những người nông dân im lặng nghe nhà vua nói và ngay cả khi ngài thuyết dụ xong, họ cũng chẳng tỏ dấu hiệu tán thành hay không tán thành.

Thế mà nhà vua đã thấy mình hôm nay rất hùng hồn. Trong lúc hiểu dụ, ngài rưng rưng nước mắt đến mấy lần. Nhưng vì nông dân vẫn giữ thái độ do dự lúng túng, không quyết định trả lời ngài, nên ngài cau mày có vẻ không bằng lòng.

Nông dân biết rằng nhà vua bắt đầu thấy mình phải chờ đợi quá lâu nên cuối cùng một người trong bọn họ tách khỏi đám đông, tiến lên nói:

- Tâu bệ hạ, xin bệ hạ thấu cho rằng chúng thần không ngờ bệ hạ đến đây hôm nay, vì thế chúng thần chưa chuẩn bị trả lời bệ hạ ngay. Thế nhưng thần xin bệ hạ vào trong kho đồ thánh tế để nói chuyện với ông mục sư của chúng thần trong lúc chúng thần bàn với nhau về việc bệ hạ vừa hiểu dụ.

Nhà vua hiểu rằng lúc này ngài chẳng có cách nào hơn vì thế đành nghe theo lời khuyên của người nông dân.

Vào đến trong kho đồ thánh, nhà vua không thấy ai ngoài một người có vẻ là một lão nông. Người ấy cao lớn, hai bàn tay to tướng hằn dấu vết lao động. Người ấy không có cổ áo, không mặc áo dài mà mặc một chiếc quần cụt bằng da và một cái áo khoác dài bằng vải thô trắng như mọi người dân khác ở vùng này. Người ấy đứng dậy khi thấy nhà vua bước vào.

- Ta cứ tưởng sẽ gặp ông mục sư ở đây, - nhà vua nói.

Ông lão đỏ mặt. Thấy nhà vua tưởng mình là một nông dân, ông ta nghĩ không nên nói cho nhà vua biết chính mình là mục sư của xã này.

- Tâu bệ hạ đúng thế, thường thường ông mục sư ở đây vào giờ này, - ông đáp.

Nhà vua ngồi vào một chiếc ghế bành lớn có lưng tựa cao bày trong kho đồ thánh lúc bấy giờ, và ngày nay vẫn còn ở đấy, hoàn toàn như xưa chỉ có khác là sau này xã đã tô điểm vào lưng ghế một vương miện mạ vàng.

- Ông mục sư của các người có tốt không? - Nhà vua hỏi để tỏ ra quan tâm đến tình hình địa phương.

Nghe nhà vua hỏi, ông mục sư càng thấy mình không thể để lộ ra mình là ai. "Thà vẫn để ngài tưởng mình chỉ là nông dân". - Ông nghĩ thầm rồi đáp rằng ông mục sư ở đây không đến nỗi quá tồi. Ông giảng đạo cũng rõ ràng, trong sáng và ăn ở theo lời dạy của Chúa.

Nhà vua cho đấy là một lời ca tụng nhiệt liệt, nhưng tai ngài rất thính nên thấy hình như giọng ông cụ hơi ngập ngừng.

- Nhưng hình như dân chúng không bằng lòng hoàn toàn ông mục sư của mình, - nhà vua nói.

- Vâng, ông ta hơi độc đoán, - ông đáp.

Ông nghĩ rằng rồi đây nếu nhà vua biết ông là ai thì ít nhất ông cũng nên tránh để nhà vua cho rằng ông chỉ biết tự khen. Vì thế ông thấy cần tự chê bai đôi lời:

- Có nhiều người cho rằng ông mục sư chỉ muốn quyết định một mình mọi công việc trong xã.

- Nếu thế chắc ông ta đã quyết định và thu xếp mọi việc một cách tốt nhất, - nhà vua nói. -Vì ngài không thích người nông dân phàn nàn về thượng cấp của họ. Hình như vùng này có nhiều thuần phong mỹ tục và vẫn sống giản đơn như trong thời cổ.

- Vâng, dân ở đây khá lương thiện, - ông mục sư đáp, - nhưng họ sống xa mọi thứ, trong cảnh cô quạnh và nghèo nàn. Chắc họ sẽ không tốt hơn dân các nơi khác đâu, nếu những sự cám dỗ của thế gian này ở gần họ hơn.

- May mà chúng ta không phải sợ xảy ra tình hình đó, nhà vua vừa nói vừa nhún vai.

Ngài không nói gì nữa và bắt đầu lấy ngón tay gõ xuống mặt bàn. Ngài cho rằng nói chuyện một cách thân mật với ông lão thô lỗ này như thế là đủ rồi và sốt ruột không biết đến bao giờ thì đám nông dân ở ngoài kia mới chuẩn bị xong để trả lời ngài.

- Nông dân ở đây có vẻ không sốt sắng cứu giúp nhà vua của mình, - ngài lẩm bẩm. - Nếu chiếc xe chữa xong ta sẽ đi ngay mặc kệ họ với những cuộc bàn luận của họ.

Còn ông mục sư thì vẫn đang tranh đấu bản thân về một vấn đề quan trọng cần quyết định. Ông mừng thầm thấy mình không tiết lộ cho nhà vua biết mình là ai. Có thế ông mới dám trình bày với nhà vua một chuyện mà ông sẽ không dám đả động đến một cách khác.

Im lặng một lát, ông mục sư cất tiếng hỏi nhà vua rằng có đúng là quân thù sắp xông vào và đất nước đang lâm nguy không.

Nhà vua thấy ông lão thô kệch này lẽ ra nên nhã nhặn không quấy rầy ngài nữa. Ngài bèn giương mắt nhìn ông ta và không trả lời.

- Thần mạo muội xin hỏi bệ hạ như vậy, vì lúc ấy thần ở trong nhà nên không nghe rõ bệ hạ nói gì - ông mục sư giải thích. - Nhưng nếu quả đúng như vậy thì thần xin tâu để bệ hạ biết rằng ông mục sư xã này có lẽ có khả năng hiến bệ hạ bao nhiêu tiền của cũng được.

- Hình như lúc nãy trẫm có nghe ngươi nói rằng ở vùng này ai nấy đều nghèo túng, - nhà vua vừa đáp vừa nghĩ chắc ông lão này không hiểu rõ mình nói gì.

- Tâu bệ hạ, đúng thế và ông mục sư xã này còn nghèo hơn tất cả mọi người khác, - ông đáp. - Nhưng nếu bệ hạ vui lòng nghe thần nói một lát, thần sẽ kể để bệ hạ rõ vì sao ông mục sư có thể giúp bệ hạ.

- Ngươi cứ nói, - nhà vua đáp. - Ngươi có vẻ nhiều mồm miệng hơn bạn bè và hàng xóm của ngươi ở ngoài kia, họ không thể phát biểu nổi một câu trả lời.

- Trả lời bệ hạ đâu có phải chuyện dễ dàng. Thần e rằng chỉ có ông mục sư mới có thể thay mặt mọi người để trả lời bệ hạ.

Nhà vua bèn bắt chân chữ ngũ ngồi lọt vào trong chiếc ghế bành, khoanh tay lại và gục đầu xuống ngực.

- Thôi bây giờ ngươi bắt đầu đi, - nhà vua nói, giọng ngái ngủ.

- Tâu bệ hạ, hồi xưa xã này có năm người rủ nhau đi săn nai ở trong rừng, - ông mục sư bắt đầu kể. - Một người trong bọn họ là ông mục sư mà chúng ta đang nói đến. Hai người khác là lính tên là Ôlôp và Errich Xvac, người thứ tư - chủ quán trong làng và người thứ năm - một nông dân tên gọi Ixraen Pe Pecxon.

- Cần gì phải nêu nhiều tên đến thế, - nhà vua vừa lẩm bẩm vừa ngả đầu sang một bên.

- Mấy người ấy đều là thiện xạ, luôn luôn gặp may. Nhưng hôm đó họ đi mãi mà chẳng săn được gì. Cuối cùng họ đành chịu và ngồi xuống đất để nói chuyện. Họ bảo nhau rằng trong khắp rừng này không nơi nào có thể trồng trọt được, đâu đâu cũng chỉ toàn đá và đầm lầy.

- Chúa bất công với chúng ta nên mới phân cho chúng ta một vùng nghèo nàn như thế này, - một người trọng bọn nói. - Ở nhiều vùng khác nhau dân có thể kiếm đủ ăn, đủ tiêu, lại còn thừa thãi là khác, chứ như ở đây thì dù chúng ta cố gắng đến mấy vẫn khó lòng kiếm nổi miếng bánh ăn hàng ngày.

Ông mục sư ngừng lại một lát, vì ông không rõ nhà vua có nghe không. Vua liền ngó ngoáy ngón tay út để tỏ ra rằng mình vẫn còn thức.

Đang lúc mấy người đi săn nói chuyện với nhau như vậy, ông mục sư trông thấy cái gì lóng lánh trong tảng đá ở nơi ông đã vô tình lấy chân di sạch rêu.

- Tảng đá này mới lạ chứ, - ông nghĩ rồi lấy chân đá vào đám rêu khác. Ông cúi nhặt một mảnh đá bám vào đám rêu và thấy nó cũng lóng lánh như thế.

- Lạy Chúa, cái này có phải là chì không nhỉ? - Ông nói.

Nghe thấy thế mấy người kia vội vàng đứng dậy và dùng báng súng đập sạch rêu trên tảng đá. Làm xong cả mấy người đều nhìn thấy rõ ràng một mạch quặng xuyên qua tảng đá.

- Ít nhất phải là chì hoặc kẽm, - họ bàn với nhau.

- Và khắp cả hòn núi này đều có, - ông chủ quán nói thêm.

Khi ông mục sư kể chuyện đến đây, ông thấy nhà vua hơi ngẩng đầu lên và hé mở một mắt.

- Thế trong bọn ấy có ai thạo về đá, về quặng không?

- Tâu bệ hạ, chẳng có ai thạo, - ông mục sư đáp. - Thế là nhà vua gục đầu xuống và nhắm cả hai mắt lại.

Ông mục sư và mấy người bạn tìm được cái đó rất lấy làm thích, - người kể chuyện nói tiếp, không để ý đến vẻ lạnh lùng của nhà vua. - Họ cho rằng họ vừa mới thu được một vật sẽ làm giàu cho họ và con cháu họ.

- Tôi sẽ không bao giờ phải làm lụng nữa, - một người trong bọn nói.

- Còn tôi suốt tuần lễ chẳng cần làm gì cả và đến chủ nhật sẽ đi nhà thờ bằng xe ngựa mạ vàng.

Ngày thường họ là những người rất tốt, nhưng sự phát hiện quan trọng kia đã làm cho họ mất trí đến nỗi nói năng như trẻ con. Tuy vậy, họ vẫn còn đủ lý trí để thu dọn gọn ghẽ bằng cách để những mảnh rêu phủ lên trên mạch quặng. Sau đó họ đánh dấu địa điểm rồi ra về.

Trước khi từ biệt nhau, họ nhất trí quyết định rằng ông mục sư sẽ đi Falun để hỏi ông thanh tra ngành mỏ xem thứ quặng của họ vừa tìm ra là quặng gì. Ông phải về càng sớm càng hay và họ long trọng thề với nhau rằng trong lúc chờ đợi, không ai được tiết lộ địa điểm tìm thấy quặng.

Một lần nữa nhà vua lại hơi ngẩng đầu lên, nhưng không hề ngắt lời người kể chuyện. Cuối cùng, hình như nhà vua bắt đầu tin rằng ông lão này chắc có điều gì thực sự quan trọng muốn nói cho mình, nên ông ta mới không quan tâm đến thái độ thờ ơ của ngài.

- Thế là ông mục sư lên đường, mang theo vài mảnh quặng. Ông cũng vui thích như mấy người kia, khi nghĩ rằng mình sẽ giàu có. Ông tự nhủ rằng chẳng bao lâu ông sẽ có khả năng xây dựng lại nhà xứ của mình mà hiện nay trông như một túp lều. Rồi ông sẽ cưới cô con gái của cha bề trên mà ông rất yêu! Thế mà ông cứ tưởng phải chờ nhiều năm nữa ông mới có thể cưới cô! Nghèo nàn, ở một địa vị kém cỏi như ông, ông cứ tưởng rằng phải một thời gian dài nữa ông mới lĩnh được một chức vụ có đủ bổng lộc để lấy vợ.

Ông mục sư đi hai ngày thì đến Falun và suốt ngày thứ ba ông phải nằm chờ vì ông thanh tra đi vắng. Cuối cùng, ông được gặp ông ta và đưa cho xem những mảnh quặng. Ông thanh tra cầm lấy chúng. Ông ta nhìn chúng rồi nhìn ông mục sư.

Ông mục sư kể cho ông thanh tra nghe chuyện tìm thấy những mảnh quặng ấy trong một quả núi ở xã ông và ông không rõ nó có phải là chì không.

- Không, nó không phải là chì, - ông thanh tra nói.

- Hay nó là kẽm? - Ông mục sư hỏi.

- Nó cũng không phải là kẽm, - ông thanh tra lại nói.

Ông mục sư thấy mọi hi vọng của mình có vẻ đang tiêu tan. Đã từ lâu, ông chưa bao giờ ủ rũ như lúc này.

-Trong xã của cha có nhiều tảng đá như thế này không?

- Có cả một quả núi như vậy, - ông mục sư đáp.

Ông thanh tra liền tiến lại gần, vỗ vai ông và nói:

- Con mong rằng cha sẽ biết cách dùng nó để có ích lợi cho cả cha lẫn tổ quốc, vì nó là bạc đấy.

- Là bạc? - Ông mục sư nhắc lại, lặng người. - Nó là bạc!

Ông thanh tra bèn giải thích cho ông mục sư nghe làm thế nào để được chính thức công nhận quyền sở hữu cái mỏ và khuyên ông rất nhiều điều, nhưng ông mục sư vẫn còn ngơ ngẩn không nghe rõ gì cả. Trong đầu óc ông cứ quay cuồng ý nghĩ kỳ diệu này: thế ra trong cái xã nghèo nàn của ông có cả một núi bạc đang chờ đón ông.

Nhà vua vội vã ngẩng đầu lên làm cho ông mục sư im bặt.

-Ta đoán rằng khi ông mục sư về đến nhà và bắt tay làm mỏ, ông ta sẽ thấy rằng ông thanh tra kia chỉ định đùa ông mà thôi, - nhà vua nói.

- Tâu bệ hạ không ạ, ông thanh tra không đánh lừa ông ta, - ông mục sư nói.

- Thôi người kể tiếp đi, - nhà vua vừa nói vừa ngồi xuống nghe.

- Khi ông mục sư về đến xã mình, - người kể tiếp, - ông ta cho rằng bổn phận đầu tiên của mình là phải thông báo ngay cho các bạn ăn của mình biết giá trị của vật tìm được hôm trước. Ông đi ngang qua quán của Xten Xlenxơn nên ông định vào báo cho ông này biết rằng quặng tìm thấy là quặng bạc. Nhưng khi tới trước cửa, ông thấy có nhiều tấm dạ treo ở các cửa sổ và một mớ cành thông băm vụn trải dài cho đến tận chân cầu thang.

- Ai chết ở đây thế? - Ông hỏi một em bé đang chơi nghịch gần hàng rào.

- Ông chủ quán chết đấy ạ, - em bé đáp. Rồi em kể cho ông mục sư biết rằng suốt cả tuần trước ngày nào ông chủ quán cũng uống rượu say.

- Trời ơi! Ông ấy uống không biết bao nhiêu là rượu mạnh, - em bé kêu lên.

- Tại sao thế nhỉ! - Ông mục sư hỏi. - Trước khi ông ấy có say rượu bao giờ đâu.

- Ông ấy uống, - em bé đáp, - vì ông ấy bảo ông ấy đã tìm được một cái mỏ. Ông ấy nói rằng ông ấy rất giàu, không cần làm gì nữa, chỉ việc uống rượu thôi. Thế rồi chiều hôm qua, ông ấy đánh xe đi lúc đang say; chiếc xe đổ, ông ấy chết thẳng.

Khi ông mục sư nghe xong, ông lại đi tiếp. Chuyện ông chủ quán làm ông buồn lắm, vì lúc ở tỉnh về ông rất vui cứ tưởng mình được báo một tin quan trọng cho mấy người bạn săn.

Mới đi được vài bước, ông trông thấy Pe Pecxơn đang tiến về phía ông. Ông ta trông vẫn như ngày thường, nên ông mục sư nghĩ thầm rằng may mà của cải chưa làm điêu tàn ông. Phải báo ngay cho ông biết rằng từ nay ông giàu có để ông thích.

- Lạy cha, - Pe Pecxơn nói. - Cha vừa mới ở Falum về đấy à?

- Phải, - ông mục sư đáp. - Cha báo tin cho con biết rằng tình hình còn tốt đẹp hơn chúng ta tưởng. Ông thanh tra ngành mỏ cho cha biết thứ quặng mà chúng ta tìm thấy là quặng bạc.

Lập tức, Pe Pecxơn biến sắc như một người thấy trời sụp.

- Cha nói gì thế? Cha nói gì thế? Bạc à? - Pe Pecxơn kêu lên.

- Phải, - ông mục sư đáp, - bọn ta bây giờ giàu rồi. Chúng ta có thể sống ung dung rồi. - Phải rồi, đó là bạc, - ông mục sư khẳng định. - Con tưởng ta nói dối con hay sao? Con cứ việc vui đi, đừng sợ.

- Vui à? - Pe Pecxơn nói. - Con mà vui được à? Con lại tưởng thứ quặng mà chúng ta tìm thấy chỉ là mica, và vì con muốn ăn chắc cho nên đã bán phần mỏ của con cho Ôlôp Xvac lấy một trăm êquy rồi.

Ông ta tuyệt vọng và khi ông mục sư đi khỏi, ông ta vẫn còn đứng khóc trên đường cái.

Về đến nhà, ông mục sư sai đầy tớ đi báo cho Ôlôp Xvac và người em ông ta biết rằng quặng tìm được là bạc. Vì ông đã chán việc đích thân đi báo tin mừng rồi.

Nhưng đến tối, khi ngồi nhà một mình, ông lại thấy trong lòng vui sướng, ông ra khỏi nhà, bước vào chỗ tối tăm rồi trèo lên quả đồi là nơi ông định xây nhà xứ mới. Dĩ nhiên ngôi nhà này phải thật lộng lẫy, không thua bất kỳ tòa giám mục nào. Đêm đó ông đứng lâu ngoài trời không phải chỉ muốn xây lại nhà. Ông chợt nghĩ rằng một khi xã ông giàu có như vậy, nhiều người sẽ từ các nơi kéo đến và cuối cùng có lẽ người ta phải dựng cả một thành phố mới quanh cái mỏ. Và khi đó, ông sẽ phải xây một ngôi nhà thờ mới thay cho ngôi cũ. Chắc một phần tài sản của ông sẽ phải chi vào việc đó. Nhưng tâm trí ông không dừng lại ở đây, ông nghĩ rằng khi nào ngôi nhà của ông được xây xong, ắt nhà vua và nhiều vị giám mục sẽ tới làm lễ dâng nó lên Chúa. Nhà vua sẽ phán rằng ở đây không có chỗ nào xứng đáng để nhà vua nghỉ. Và thế là ông lại phải xây một hoàng cung trong cái thành phố mới này.

Lúc đó, một ông quan hộ giá mở cửa bước vào tâu với nhà vua rằng xe rồng đã sửa xong.

Thoạt tiên nhà vua định đi ngay nhưng rồi đổi ý.

- Ta cho phép ngươi kể nốt câu chuyện, - nhà vua bảo ông mục sư. - Nhưng phải kể mau mau lên. Ta đã biết ông mục sư nghĩ gì và ước gì rồi, bây giờ ta muốn biết ông ấy làm gì.

- Nhưng đang lúc ông mục sư mơ ước như thế, - ông mục sư kể tiếp, - thì có người đến báo tin rằng Pe Pecxơn đã tự tử. Ông ta chịu không nổi, khi nhớ lại rằng mình không thể ngày ngày đứg trông kẻ khác hưởng những của cải đáng lẽ thuộc về mình.

Nhà vua đổi tư thế ngồi trong ghế bành, mắt mở to.

- Quả thật, nếu ta là ông mục sư đó, ta cũng đến chán cái mỏ ấy!

- Đức vua là một người giàu có, - ông mục sư nói. - Ngài muốn gì được nấy chứ đâu như một ông mục sư nghèo khổ chẳng có gì cả.

Khi ông thấy Chúa không ban phúc lành cho việc làm của ông, ông nghĩ: Thôi từ nay, mình chẳng mơ ước được giàu có và được trọng vọng nhờ có kho của cải này nữa, nhưng mình không thể để nó thành vô dụng trong lòng đất. Mình phải lấy nó lên và đem cho kẻ khó. Mình phải khai thác cái mỏ này để làm cho toàn xã được sung túc.

Thế là một hôm ông mục sư đi đến nhà Ôlôp Xvac để bàn với anh em ông này về cách sử dụng núi bạc kia.

Khi ông đến nhà Ôlôp, ông gặp một chiếc ô tô có nhiều nông dân đi xung quanh và trong xe có một người ngồi, tay bị trói quặt ra sau lưng, cổ chân cũng bị trói bằng dây thừng.

Khi ông mục sư đi ngang qua, chiếc xe dừng lại, nên ông có thể nhìn người bị bắt. Đầu người này quấn đầy băng nên ông khó nhận ra đích xác là ai, nhưng hình như đó là Ôlôp Xvac.

Ông nghe thấy người tù xin những người đi canh cho phép mình nói vài lời với ông mục sư.

Ông mục sư bèn bước lại gần, người tù quay lại và nói:

- Bây giờ thì cha sắp thành người duy nhất biết cái mỏ ấy ở đâu.

- Ôlôp, con nói gì thế? - Ông mục sư hỏi.

- Thưa cha, nghĩa là con xin nói cho cha rõ rằng từ khi chúng ta tìm ra núi bạc, anh em con không thể sống hòa thuận với nhau như trước nữa. Chúng con luôn luôn cãi nhau. Chiều qua chúng con lại cãi nhau về vấn đề ai là người đầu tiên trong số năm người chúng ta tìm ra cái mỏ, thế rồi anh em con đánh nhau. Con giết chết em con, còn hắn thì làm cho con bị thương ở trán. Con sẽ bị treo cổ và sau đó chỉ còn một mình cha biết cái mỏ ấy ở đâu. Chính vì thế mà con muốn nhờ cha việc này.

- Con có điều gì nghĩ ngợi con cứ nói - Ông mục sư đáp, - Cha sẽ cố sức giúp con.

- Cha cũng biết rằng con đông cháu, - người tù nói.

Ông mục sư ngắt ngay lời Ôlôp:

- Về chuyện đó, con cứ yên tâm. Phần mỏ của con sẽ thuộc về các cháu, y như con còn sống vậy.

- Không, con có muốn nhờ cha như thế đâu. Con xin cha không cho chúng bất cứ tí gì về cái mỏ đó cả.

Ông mục sư lùi lại một bước rồi đứng sững.

- Nếu cha không hứa với con như vậy, con sẽ không yên tâm mà chết, - người tù nói.

- Được, - ông mục sư phải cố gắng lắm mới đáp thành tiếng và ông nói rất chậm. - Cha hứa làm theo lời con dặn.

Rồi người tù bị giải đi, còn có một mình ông mục sư đứng trên đường, suy nghĩ miên man không biết giữ lời hứa với người tù như thế nào. Trên đường về, ông chỉ nghĩ đến đống của kếch sù đã có lúc làm ông rất vui thích, nhưng nếu bây giờ nhân dân xã ông không kham nổi sự giàu có thì sao? Mắt ông đã trông thấy bốn người chết, mà trước kia tất cả bốn đều là những người trung hậu, dũng cảm. Trước mắt ông dường như hiện ra tất cả mọi người dân trong giáo xứ và ông có cảm tưởng rằng cái mỏ bạc sắp làm cho họ lần lượt gặp tai họa. Ông là người có nhiệm vụ chăm sóc phần hồn của những con người tội nghiệp ấy, vậy ông có thể làm ngược lại trách nhiệm của mình không và đẩy họ đến chỗ sa đọa hay không?

Nhà vua đang ngồi trong chiếc ghế bành bỗng đứng phắt dậy và nhìn chăm chú người đang nói chuyện với ngài.

- Quả thật, - ngài nói, - quả thật ngươi làm cho ta hiểu rằng ông mục sư ở một nơi hẻo lánh như xứ này nhất định phải là một kẻ khác người.

- Nhưng như thế chưa hết đâu ạ, - ông mục sư nói tiếp. - Cái tin tìm ra mỏ bạc càng lan rộng bao nhiêu thì nhân dân trong xã càng lười nhác bấy nhiêu. Họ không chịu làm việc nữa, cứ đi rong chơi chờ cái ngày của cải tuồn vào nhà họ. Tất cả những tên lưu manh ở quanh vùng đều kéo đến và chẳng bao lâu ông mục sư chỉ nghe nói toàn những chuyện say rượu và đổ máu.

Có rất nhiều người chẳng làm ăn gì cả ngoài việc luôn luôn sục sạo khắp rừng để tìm mỏ, và ông mục sư để ý thấy hễ ông ra khỏi nhà là có kẻ rình mò theo gót xem ông có lên mỏ không để ăn cắp bí mật của ông.

Thấy tình hình như vậy, ông mục sư bèn triệu tập giáo dân trong xứ lại.

Thoạt tiên, ông kể lại với họ những tai họa mà việc tìm ra cái mỏ gây ra, rồi ông hỏi rằng họ muốn xuống hỏa ngục hay là muốn cứu rỗi mình. Rồi ông bảo họ đừng có trông mong ông mục sư của họ lại góp phần làm hại họ. Ông quyết định không nói cho ai biết cái mỏ ấy ở đâu và ông cũng không muốn kiếm lợi cho bản thân ông. Cuối cùng, ông hỏi các nông dân rằng họ muốn tương lai của họ như thế nào. Nếu họ cứ mất công tiếp tục tìm cái mỏ để làm giàu thì ông sẽ ra đi để khỏi phải nghe nói về chuyện đó nữa. Nhưng nếu họ định thôi không nghĩ đến cái mỏ và lại sống như trước thì ông sẽ ở lại với họ.

- Nhưng dù các con định thế nào đi nữa, các con hãy nhớ rằng cha sẽ không bao giờ hở cho ai biết tí gì về núi bạc kia cả.

- Thế các nông dân định thế nào? - Nhà vua hỏi.

- Họ làm theo ý muốn của ông mục sư. Họ hiểu rằng ông mong điều tốt lành cho họ, ông đành chịu nghèo túng vì họ. Họ mới nói ông lên rừng lấy đá và cành cây lấp kín cái mạch quặng để không ai có thể tìm ra nữa, kể cả họ lẫn con cháu của họ.

- Thế sau đó ông mục sư vẫn sống nghèo như các người khác à?

- Tâu bệ hạ vâng, ông ta vẫn nghèo túng như các người khác.

- Nhưng ông ta cần lấy vợ và xây nhà xứ mới kia mà, - nhà vua hỏi.

- Không, ông không có điều kiện để lấy vợ và ông vẫn ở trong túp lều cũ.

- Câu chuyện người vừa kể rất hay, - nhà vua gật đầu nói.

Ông mục sư đứng im lặng trước mặt nhà vua. Một lúc sau, nhà vua nói:

- Có phải lúc nãy ngươi định ám chỉ cái mỏ khi ngươi nói ông mục sư ở xứ này có thể cung cấp cho ta bao nhiêu tiền bạc cũng được?

- Tâu bệ hạ, vâng. - Ông mục sư đáp.

- Nhưng ta không thể sai xích tay ông ta, - nhà vua nói. - Mà nếu không làm thế thì làm cách nào ép một người như ông ta chỉ đường vào mỏ được? Ép sao nổi một người đã quyết tâm từ bỏ không cưới người vợ chưa cưới của mình và cả của cải trên thế gian này.

- Đó là một chuyện khác, - ông mục sư đáp. - Nếu bây giờ Tổ quốc cần kho báu ấy, chắc chắn ông mục sư sẽ nhượng bộ.

- Ngươi có bảo đảm như vậy không? - Nhà vua hỏi.

- Dạ có, tôi xin đảm bảo, - ông mục sư đáp.

- Thế ngươi không quan tâm đến số phận của nhân dân trong xã ngươi nữa ư?

- Lạy Chúa tôi, xin Chúa tôi khoan thứ cho họ.

Nhà vua rời chiếc ghế bành, đi đến bên cửa sổ. Ngài nhìn dân chúng đang đứng bên ngoài. Nhà vua càng nhìn họ, mắt ngài càng bừng sáng và toàn thân hình như lớn hẳn lên. Cuối cùng nhà vua nói:

- Ngươi nói hộ với ông mục sư của xã này rằng trong con mắt của nhà vua Thụy Điển không có cảnh nào đẹp bằng cảnh dân chúng đang đứng kia.

Rồi nhà vua quay mặt về phía ông mục sư, nhìn ông ta và mỉm cười.

- Hay là ông mục sư xã này nghèo đến nỗi làm lễ mixa vừa xong là ông ta phải cởi bộ quần áo đen để mặc quần áo nông dân vào? - Nhà vua hỏi.

- Vâng, ông ta nghèo như vậy, - ông mục sư đáp, và bộ mặt rắn rỏi của ông đỏ ửng.

Nhà vua trở lại bên cửa sổ. Ngài rất vui. Những lời mà ngài vừa mới nghe đã thức tỉnh trong tâm trí những tình cảm cao đẹp và nhân từ nhất.

- Cha nên để yên cái mỏ đó, - nhà vua nói, - Vì cha đã lao tâm khổ tứ suốt đời để làm cho nhân dân ở đây trở thành những người như cha muốn, cha sẽ phải gìn giữ cho họ vẫn được như bây giờ.

- Nhưng nếu Tổ quốc lâm nguy thì sao ạ? - Ông mục sư hỏi.

- Con người phụng sự Tổ quốc tốt hơn tiền bạc, - nhà vua đáp.

Nói đoạn nhà vua từ biệt ông mục sư và bước ra khỏi kho đồ thánh.

Ở bên ngoài, dân chúng vẫn im lặng, cũng ít nói như khi nhà vua gặp họ lúc nãy. Lúc nhà vua xuống cầu thang kho đồ thánh, một nông dân tiến lên tâu với ngài:

- Tâu bệ hạ, bệ hạ đã gặp ông mục sư của chúng tôi chưa?

- Đã, - nhà vua nói, - ta đã nói chuyện với ông mục sư của các ngươi rồi.

- Thế chắc ông mục sư đã trả lời bệ hạ rồi? - Người nông dân nói. Chúng tôi đã tâu xin bệ hạ gặp ông mục sư của chúng tôi chính là để ông trả lời bệ hạ.

- Phải, - nhà vua nói, - ông mục sư đã trả lời ta rồi.


TÔ CHƯƠNG dịch


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
       
     
Có bài mới 21.04.2017, 16:23
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 29 Nữ
Bài viết: 16330
Được thanks: 4281 lần
Điểm: 9.07
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tập truyện ngắn] Chiếc xe của thần chết - Selma Lagerlöf - Điểm: 10
NHỮNG ĐỒNG ÊQUY 1 CỦA CỤ ARNƠ TẠI NHÀ GIÁO SĨ XỨ XONBERGA


1


Thời vua Frêđêrich đệ nhị, nước Đan Mạch còn trị vì xứ Bôhuxlăng, có một bác hàng cá nghèo tên là Tôraranh sinh sống ở Marxt'răng. Bác ta người gầy còm, yếu ớt. Một cánh tay bác bị tê liệt nên bác không chèo thuyền và đánh cá được. Bác không thể kiếm ăn trên mặt biển như mọi người dân khác trên quần đảo, nhưng bác đi khắp các miền trên cạn để bán cá muối, cá khô. Quanh năm bác đi từ làng này sang làng khác với cỗ xe chở cá, vì thế rất ít khi bác có mặt ở nhà.

Một ngày tháng hai, Tôraranh đánh chiếc xe trượt băng đi từ khu Kungxan tới giáo khu Xonberga. Mặt trời đang lặn. Con đường thật vắng vẻ. Không một người qua lại. Nhưng không vì thế mà Tôraranh phải im lặng. Trong xe, bên cạnh bác là một người bạn tốt mà bác có thể chuyện trò. Đó là một con cún mực, lông xù. Tôraranh đặt tên cho nó là Grim. Grim hầu như lúc nào cũng nằm im, đầu ghểnh lên hai chân trước, và chỉ nhấp nháy con mắt khi nghe chủ nói. Thế nhưng chỉ cần nghe thấy một tiếng động không vừa ý là nó đứng phắt dậy trong cỗ xe, hếch mũi đánh hơi và tru lên khủng khiếp hơn cả chó sói.

- Grim này, tao phải kể cho mày nghe những tin quan trọng tao vừa hay nhé, - Tôraranh nói, - Ở Kungxan cũng như ở Karêbi, người ta kể với tao rằng biển đã đóng băng rồi. Dạo này trời đẹp và yên tĩnh, chắc mày biết rõ điều đó hơn ai hết vì ngày nào mày chẳng ở trên đường. Biển đóng băng không những trong các vịnh, các eo, mà còn đến tận Katơgat. Tàu bè không thể qua lại giữa các đảo được nữa. Khắp nơi toàn những băng cứng chắc, người ta có thể đi ngựa, đi xe đến tận Macxt'răng và dùng đá ngầm Patenôxte.

Con chó nghe chủ nói có vẻ thích thú. Nó nằm yên cạnh Tôraranh, nhấp nháy đôi mắt.

- Xe chúng ta hết cá rồi, - Tôraranh nói tiếp với giọng của một người muốn thuyết phục. - Nếu đến ngã tư tới, chúng ta đổi hướng, rẽ sang hướng tây về phía bờ biển thì mày thấy thế nào? Chúng ta sẽ đi qua nhà thờ Xonberga để tới Ôtxmanxkin, từ đấy tao cho rằng không quá tám dặm nữa là về đến Marxt'răng thôi. Kể ra có lần trở về nhà mà không phải đi tàu bè thì cũng thật trứ danh đấy nhỉ.

Tôraranh và con chó vượt qua cái truông rộng Karêbi, và mặc dầu trời lặng gió, một làn hơi lạnh tràn qua truông tạt vào mặt, làm hai thầy trò đi rất vất vả.

- Có lẽ thiên hạ thấy chúng ta trở về nhà vào lúc công việc rất thuận lợi, sẽ bảo chúng ta là đồ lười, - Tôraranh vừa nói vừa vung tay cho đỡ lạnh. Nhưng tao với mày lang thang trên đường đã mấy tuần rồi, vậy chúng ta cũng phải được ngồi bên lò sưởi vài hôm để xua tan cái lạnh thấu tận xương tủy chứ.

Thấy con chó vẫn im lặng, Tôraranh càng vững dạ. Bác vui vẻ nói tiếp:

- Mẹ tao ở nhà một mình suốt thời gian qua, bà ta rất mong chúng ta về. Vả lại sống ở Marxt'răng vào mùa đông thì thật thích thú, Grim nhỉ, phố lớn, phố nhỏ đều tấp nập những dân chài và những lái buôn nước ngoài, và trong nhà các dân chài, tối nào cũng có khiêu vũ: trong các quán rượu bia tuôn như suối. Mày không thể tưởng tượng được đâu.

Sau bài diễn thuyết đó, Tôraranh cúi xuống xem con chó có nghe mình nói không.

Con chó không ngủ và chẳng tỏ ra có một dấu hiệu phản đối nào cả, vì thế Tôraranh rẽ vào con đường đầu tiên chạy về hướng tây ra biển. Bác quất roi da vun vút bên tai con ngựa để thúc nó đi cho nhanh.

- Chúng ta sắp đi qua nhà giáo sĩ xứ Xonberga, - Tôraranh nói, - tao phải vào đó để hỏi xem có đúng là đóng băng đến tận Marxt'răng không. Ở đó chắc là họ biết đấy.

Tôraranh nói nhỏ, không để ý xem con chó có nghe thấy hay không. Nhưng bác vừa dứt lời, con chó đã chồm dậy, tru lên kinh khủng.

Con ngựa nhảy sang một bên và ngay cả Tôraranh cũng hoảng hốt quay đầu nhìn lại xem có chó sói đuổi theo không. Nhưng khi nhìn thấy chính là Grim đang tru lên, bác tìm cách trấn tĩnh nó.

- Grim thân yêu, - bác nói - tao với mày đã vào nhà giáo sĩ xứ Xonberga biết bao nhiêu lần rồi còn gì. Tao không rõ cụ Arnơ có biết tình hình đóng băng ra sao không, nhưng tao biết chắc cụ ấy sẽ thết chúng ta một bữa ngon lành trước khi chúng ta đi lên mặt biển đóng băng.

Song, những lời của Tôraranh chẳng làm yên lòng con chó. Nó vẫn hếch mũi đánh hơi và càng tru lên kinh khủng hơn khiến chẳng mấy chốc Tôraranh bắt đầu thấy khó chịu.Trời đã nhá nhem tối, song Tôraranh vẫn nhận ra nhà thờ Xonberga nằm giữa cánh đồng mênh mông có những ngọn đồi cây cối um tùm che chở về phía đất liền và có những vách đá trơ trụi bao bọc về phía biển. Đi một mình trong khoảng trống bao la trắng xóa này, Tôraranh cảm thấy mình nhỏ xíu như một sinh vật bé nhất, trong khi những yêu quái chui từ khu rừng tối xẫm, từ những ngọn đồi hoang vu ra và đi lởn vởn trên khoảng đất trống nhân lúc tối trời. Và trên khắp bình nguyên này, chúng chẳng thấy một ai để vồ cả, ngoài Tôraranh.

Tuy vậy, Tôraranh vẫn tìm cách trấn an con chó.

- Thôi đi Grim, có điều gì khiến mày không thích cụ Arnơ như vậy. Cụ là người giàu có nhất vùng này. Cụ thuộc dòng dõi quý tộc, nếu cụ không làm mục sư thì chắc cụ đã là một lãnh chúa có thế lực rồi.

Con chó vẫn không chịu nghe. Thế là Tôraranh sốt ruột, nắm lấy cổ nó và quẳng nó xuống đất.

Con chó không chạy theo xe. Nó dừng lại trên đường, tiếp tục tru lên cho tới khi chiếc xe đến trước cái cổng đen ngòm của nhà giáo sĩ, rồi tiến vào trong sân có bốn căn nhà gỗ thấp, dài bao quanh.



2


Tại nhà giáo sĩ xứ Xonberga, cụ Arnơ đang ngồi ăn bữa tối với cả nhà. Ngoài Tôraranh, trong phòng không có một khách lạ nào khác.

Mục sư là một cụ già tóc bạc, nhưng trông còn cường tráng, tuổi già chưa làm còng nổi thân hình cao lớn của cụ. Bà vợ của cụ ngồi bên cụ, bà bị ảnh hưởng của tuổi tác nhiều hơn. Đầu và hai bàn tay bà cứ run rẩy liên hồi, còn tai bà thì đã nghễnh ngãng. Ngồi phía bên kia mục sư là ông phó mục sư, một người còn trẻ với khuôn mặt xanh xao đầy vẻ ưu tư. Ông ta có vẻ không gánh nổi mớ kiến thức mà ông đã thu thập được hồi còn đi học ở Vittăngbe.

Ba nhân vật này ngồi ở phía đầu bàn ăn kê cao cao có vẻ tạo thành một nhóm riêng. Tôraranh ngồi ở phía dưới, rồi tiếp đến các gia nhân, hầu hết đã có tuổi. Ba lão bộc đều đầu hói, lưng còng, mắt hấp háy và đầy nước mắt. Chỉ có bầu ngực già là còn tương đối trẻ và nhanh nhẹn hơn đôi chút. Tuy vậy, những tật nhược của tuổi già cũng làm cho họ trông yếu ớt và cứng nhắc.

Ngồi phía đầu bàn bên kia là hai cô gái. Một cô là cháu gọi cụ Arnơ bằng ông. Cô ta chưa quá mười bốn tuổi. Tóc vàng, người thon thả, khuôn mặt còn nét trẻ con, nhưng chắc cô sẽ trở thành một thiếu nữ xinh đẹp. Bên cạnh cô là một cô gái nghèo mồ côi cả cha lẫn mẹ, sống trong nhà giáo sĩ. Hai cô bé ngồi sát vào nhau, rõ là một đôi bạn chí thân.

Mọi người ngồi ăn, hoàn toàn im lặng. Tôraranh hết nhìn người này đến người khác, nhưng chẳng ai muốn nói chuyện trong bữa ăn cả.

Mấy cụ già nghĩ bụng: "Thật là phúc lớn cho ta, ta được nuôi ăn và không phải chịu cảnh đói nghèo như ta đã nhiều lần trải qua trong cuộc đời. Trong khi ăn, ta chẳng nên nghĩ tới điều gì khác ngoài việc biết ơn Chúa nhân từ."

Tôraranh chẳng có ai để nói chuyện, nên đưa mắt nhìn khắp căn phòng. Bác nhìn từ chiếc lò sưởi lớn nhiều tầng xây sát tường, gần cửa ra vào, tới chiếc giường có tán che đặt trong góc phòng đối diện. Bác cũng nhìn những chiếc ghế dài kê dọc quanh tường và những cái cửa qua đó khói thoát ra ngoài, đồng thời cũng do đó mà khí lạnh mùa đông tràn vào cuồn cuộn. Ngắm nghía tất cả những cái đó, bác hàng cá Tôraranh, vốn sống trong túp lều bé nhỏ nhất, nghèo nàn nhất quần đảo nghĩ bụng: "Nếu như mình là một người có quyền thế, như cụ Arnơ, mình sẽ không chịu ở trong một căn phòng cổ lỗ sĩ chỉ có mỗi một phòng như thế này. Mình sẽ cho xây một tòa nhà có đầu hồi cao, có nhiều phòng như nhà của ngài thị trưởng và ngài thẩm phán Marxt'răng".

Song, vật làm cho Tôraranh luôn luôn chú ý đến nhiều nhất là cái rương bằng gỗ sồi đặt dưới chân chiếc giường có tán. Thiên hạ đồn rằng cụ Arnơ cất cả gia tài trong đó: những đồng bạc nhiều đến nỗi chất đầy đến tận miệng rương.

Và Tôraranh, con người đáng thương rất ít khi có nổi một đồng bạc trong túi, nghĩ: "Mình thật chẳng muốn có đống của cải này. Thiên hạ đồn rằng cụ Arnơ lấy nó trong các tu viện lớn ở xứ này ngày trước, và các tu sĩ già tiên đoán rằng số tiền của đó sẽ gây tai họa cho cụ".

Trong khi Tôraranh suy nghĩ như vậy, bác thấy bà cụ chủ nhà đưa tay lên tai để nghe cho rõ hơn, rồi quay lại bảo cụ Arnơ và hỏi: "Sao họ lại mài dao ở Branơhốc nhỉ?"

Trong phòng đang yên lặng như tờ, nên mọi người rùng mình và ngước mắt nhìn lên, hoảng hốt khi nghe bà cụ có vẻ đang lắng nghe cái gì, mọi người đặt thìa xuống và cũng gắng lắng nghe.

Mọi tiếng động đều bặt đi trong phòng, trong một lúc, nhưng bà chủ dường như càng lo lắng hơn. Bà đặt tay mình lên tay cụ Arnơ và nhắc lại: "Tôi không hiểu sao tối nay ở Branơhốc người ta cứ mài dao hoài vậy?"

Tôraranh thấy cụ Arnơ vuốt ve bàn tay vợ để trấn tĩnh bà, nhưng cụ không trả lời vợ và vẫn bình tĩnh ngồi ăn.

Nhưng bà cụ vẫn lắng tai nghe, nước mắt trào ra, đầu và tay bà càng run rẩy hơn vì sợ hãi.

Thế là hai cô gái ở đầu bàn bên kia cũng bắt đầu khóc vì sợ.

- Thế không ai nghe thấy tiếng mài ken két và tiếng giũa à? - Bà hỏi. - Không ai nghe thấy tiếng thép rít lên à?

Cụ Arnơ vẫn ngồi bình tĩnh và luôn luôn vuốt tay vợ. Cụ chưa lên tiếng thì chẳng một ai dám hé môi cả. Nhưng mọi người đều nghĩ rằng bà chủ đã cảm nhận thấy một tiếng động ghê rợn, báo trước những điềm bất hạnh lớn. Máu như ngừng chảy trong mạch máu. Chẳng còn ai ăn nữa, trừ cụ Arnơ.

Mọi người nghĩ rằng trước đây bà cụ chủ là người trông nom nhà cửa, bà luôn luôn ở nhà săn sóc một cách khôn khéo và hiền hậu, con cháu, đầy tớ, của cải, súc vật nên tất cả mọi việc đều tốt đẹp. Tuy bây giờ bà đã già yếu, chắc chắn bà là người trước tiên thấy được mối nguy đang đe dọa cả nhà.

Bà chủ mỗi lúc một kinh hãi thêm. Hai tay chắp lại, bà nức nở vì tuyệt vọng, nước mắt chảy dòng dòng trên gò má nhăn nheo.

- Arnơ Arnexông, thế mình không cần biết vì sao tôi sợ hãi đến thế à? - Bà rên rỉ.

Lúc đó cụ Arnơ nghiêng đầu về phía bà và nói:

- Tôi không biết vì sao mình lại hoảng hốt như vậy.

- Tôi sợ những con dao dài mà bọn chúng đang mài ở Branơhốc.

- Làm sao mà mình lại nghe được tiếng mài dao ở tận Branơhốc? - Cụ Arnơ bật cười nói. - Cái ấp đó cách gần một dặm cơ mà. Thôi mình hãy cầm lấy thìa và ăn nốt cho xong bữa đi.

Bà chủ cố nén sợ, cầm lấy thìa định múc sữa trong bát, xong thìa va vào miệng bát vì tay bà cứ run bắn lên.

Mọi người đều nghe thấy tiếng va chạm, và bà chủ vội vàng đặt thìa xuống nói: "Làm sao tôi có thể ăn nổi, tôi chỉ nghe thấy tiếng ken két, rin rít thôi!".

Lúc này, cụ Arnơ đẩy bát sữa ra và chắp hai tay lại. Mọi người làm theo, và ông phó mục sư bắt đầu đọc bài kinh tối. Kinh đọc xong, cụ Arnơ nhìn những người ngồi quanh bàn, thấy mặt họ tái xanh và hoảng hốt, cụ nổi giận, và bắt đầu kể về thời kỳ cụ mới đặt chân tới xứ Bôhuxlăng để thuyết giáo về cuộc cải cách của Luyte. Cụ và các môn đệ phải trốn phe cánh của giáo hoàng La Mã, chúng truy lùng cụ như lùng thú rừng.

- Thế chúng ta chẳng đã trông thấy kẻ thù rình mò khi chúng ta tới cửa Chúa đó sao? Thế chúng ta chẳng đã bị đuổi khỏi giáo khu và phải nương thân trong rừng như những kẻ không có tổ quốc đó sao? Vậy mà bây giờ chúng ta lại điên đầu lên chỉ vì một điềm gở hay sao?

Cụ Arnơ nói với vẻ mặt của một chủ tướng khiến mọi người lấy lại được can đảm.

- Đúng như vậy đấy, - họ nói với nhau. - Chúa đã che chở cho cụ Arnơ trong những cơn nguy nan nhất. Bàn tay chúa bảo vệ cụ. Chúa sẽ không để cho kẻ tôi tớ của Người bị chết đâu.



3


Tôraranh vừa ra đến đường cái là con Grim chạy ngay lại và nhảy lên xe trượt. Nhưng thấy con chó đã đứng đợi bác trước nhà giáo sĩ, Tôraranh lại cảm thấy lo lắng.

- Grim này, sao mày lại đứng ngoài cửa suốt buổi tối thế, sao mày không vào nhà để họ cho ăn? - Bác nói với con chó. - Một tai họa đang đe dọa cụ Arnơ chăng? Phải chăng đây là lần cuối tao gặp cụ ấy? Song một chiến sĩ quả cảm như cụ cũng có ngày phải chết. Cụ sắp tròn chín mươi tuổi rồi còn gì.

Tôraranh đánh ngựa vào con đường đi qua ấp Branơhốc để đến Ôtxmanxkin.

Vừa tới ấp Branơhốc, bác thấy trong sân có nhiều xe trượt. Ánh sáng trong nhà lọt qua những lá cửa chớp khép kín. Tôraranh nói với con Grim:

"Ở đây họ chưa ngủ đâu, tao vào hỏi họ xem tối nay ở đây có ai mài dao không?"

Bác đánh xe áp sát khu nhà chính. Khi bác đẩy cửa bước vào, bác thấy ở đây đang có một cuộc họp mặt đông vui. Các cụ già ngồi uống bia trên những ghế dài kê dọc tường, thanh niên vui chơi ca hát ở giữa phòng.

Nhìn lướt qua, Tôraranh biết ngay ở đây chẳng ai định chuẩn bị vũ khí để làm chuyện đổ máu cả. Bác bèn khép cửa lại, định bỏ đi, song ông chủ nhà đã chạy theo mời bác nghỉ chân một lát, vì dù sao bác cũng tới Branơhốc rồi. Ông ta dẫn bác quay lại trong phòng.

Tôraranh tán chuyện với mấy người nông dân một lúc lâu. Họ thật là vui tính, ngay bác cũng cảm thấy vui vẻ, quên cả những linh cảm đen tối lúc trước.

Nhưng bác vẫn chưa phải là người khách cuối cùng đến dự cuộc vui này. Sau khi bác vào một lúc lâu, có hai người, một đàn ông, một đàn bà, xuất hiện trên ngưỡng cửa. Họ ăn mặc xoàng xĩnh, rụt rè đứng trong góc tường giữa lò sưởi và cửa ra vào.

Ông chủ nhà vồn vã tới đón những người khách mới, cầm tay dắt họ vào trong phòng, vừa đi vừa nói với mọi người.

- Người ta thật có lý khi nói rằng, những kẻ ở gần nhất lại thường đến chậm nhất. Đây là những người hàng xóm gần nhất của tôi. Chúng tôi là những người nông dân duy nhất ở Branơhốc đấy.

- Phải nói bác là người nông dân duy nhất mới đúng, - người đàn ông nói, - bác đừng coi tôi là nông dân, tôi chỉ là một người đốt than nghèo được bác cho ở nhờ trên đất của bác thôi.

Người đàn ông ngồi xuống bên Tôraranh, và hai bên nói chuyện với nhau. Người khách mới kể cho Tôraranh biết vì sao bác ta đến muộn. Vợ chồng bác có khách lạ đến nhà nên không dám đi đâu. Đó là ba người thợ thuộc da, họ đã ở đậu nhà bác suốt cả ngày. Sáng sớm họ đến, trông họ ốm yếu và kiệt sức. Họ kể rằng họ đã ở trong rừng suốt cả tuần. Nhưng sau khi ăn uống ngủ nghê, họ đã lại sức. Đến chiều, họ hỏi xem ấp nào lớn nhất, giàu có nhất vùng này, họ muốn tới đó may ra kiếm được việc làm, bác gái đã trả lời rằng nhà giáo sĩ Arnơ là nơi sang trọng nhất. Thế là mấy người khách ấy rút ngay trong sắc ra những con dao dài và bắt đầu mài. Họ mài mất một lúc lâu. Trong khi mài nét mặt họ lộ vẻ hung ác đến nỗi vợ chồng bác không dám đi đâu khỏi nhà.

- Tôi như còn thấy họ ngồi mài dao ken két, - bác nói, - trông họ thật ghê gớm với bộ râu dài lâu ngày không sửa, với bộ áo da thú rách rưới bẩn thỉu - Tôi tưởng như có ba con yêu tinh đang ở nhà mình. Cuối cùng, khi họ ra đi, tôi thấy nhẹ cả người.

Sau khi nghe câu chuyện trên, đến lượt Tôraranh kể cho người đốt than nghe cảnh bác được chứng kiến tại nhà giáo sĩ.

- Vậy thì đúng rồi, tối nay người ta có mài dao ở Branơhốc thật, - bác vừa cười vừa kết luận. Bác đã uống nhiều rượu. Khi tới đây, lòng bác rất buồn rầu băn khoăn, nên bác đã tìm cách để mụ mẫm đi và để cố khuây khỏa.

- Thế là tôi thấy hoàn toàn phấn chấn hẳn lại - bác nói - bây giờ thì tôi rõ rồi, linh cảm của bà cụ giáo sẽ chỉ là do ba người thợ thuộc da kia mài dụng cụ của họ thôi.



4


Quá nửa đêm một lúc lâu, một vài người trong ấp Branơhốc bước ra thắng ngựa để về nhà.

Ra tới sàn, họ nhìn thấy một đám cháy lớn sáng rực trời ở hướng bắc.

Họ vội vã quay lại và kêu lớn: "Dậy đi, dậy đi, nhà giáo sĩ xứ Xonberga cháy rồi!"

Khách ở Branơhốc rất đông, những người có ngựa thì nhảy ngay lên yên; phóng như bay về phía nhà giáo sĩ, còn những người khác cũng vội vàng chạy bộ theo, và tới nơi không chậm hơn mấy tí.

Tại nhà giáo sĩ, chẳng thấy ai động đậy gì cả. Dường như tất cả đều đang ngủ yên trong nhà, mặc dù ngọn lửa bốc lên dữ dội.

Căn nhà không bén lửa. Nhưng ở cạnh tường nhà có kẻ xếp một đống củi và rơm, và đã châm lửa vào đó trước đấy không lâu. Ngọn lửa chỉ mới gây thiệt hại là hun đen những cây xà nhà bằng gỗ tốt và làm tan tuyết trên mái. Nhưng nó đang bắt đầu bén vào mái rơm.

Mọi người đều đoán biết ngay đây là một vụ đốt nhà gây tội ác. Không hiểu vợ chồng cụ Arnơ vẫn còn ngủ hay đã gặp bất hạnh.

Song, trước khi vào trong nhà, những người đến chữa cháy phải dùng những cây sào dài gạt đống lửa đang cháy đùng đùng cạnh tường. Họ trèo lên mái nhà, giật những đám rơm đã bốc khói sắp sửa bùng cháy.

Rồi một vài người chạy tới cửa ra vào, định vào đánh thức cụ Arnơ dậy. Nhưng vừa đến ngưỡng cửa, người đi đầu vội đứng tránh sang một bên, nhường chỗ cho người đi sau. Người tới sau, bước lên một bước, nhưng vừa nắm lấy cái then cửa, anh ta cũng lại vội tránh sang một bên dành chỗ cho người tới sau.

Ngay dưới cái ngưỡng cửa đã làm mọi người khiếp sợ này, một suối máu chảy lênh láng, cả cái then cửa cũng vấy máu.

Bỗng nhiên, cánh cửa bật mở, ông phó mục sư đâm bổ ra ngoài. Ông ta lảo đảo chạy về phía những người đang đứng chen chúc bên tường. Bị một vết chém sâu vào đầu, người ông bê bết máu. Ông đứng lặng một lát, giơ tay ra hiệu im lặng, rồi nói hổn hển:

- Đêm nay, cụ Arnơ và cả nhà cụ đã bị ba tên cướp giết hại, chúng trèo vào trong nhà qua lỗ hổng mái nhà phía trên lò sưởi. Chúng mặc áo bằng da thú có lông dài. Chúng lao vào chúng tôi như bầy thú dữ và giết chúng tôi.

Ông ta không còn đủ sức nói thêm, gục xuống chết ngay dưới chân mọi người.

Ai nấy đi vào nhà, thấy mọi điều đều đúng khớp như lời ông phó mục sư.

Chiếc rương gỗ sồi to tướng mà cụ Arnơ dùng để cất tài sản không còn đó nữa. Bọn lưu manh đã đánh cắp con ngựa của cụ Arnơ buộc trong chuồng và chiếc xe trượt băng đặt trong nhà chứa xe.

Dấu xe trượt in từ sân ra phía biển, xuyên qua cánh đồng của giáo xứ.

Hai mươi người lao theo dấu vết bọn sát nhân. Còn những phụ nữ thì vào nhà chăm lo những người tử nạn, khiêng họ từ trong ngôi nhà ngập máu ra ngoài sân phủ tuyết trắng tinh.

Họ không tìm thấy đủ số lượng người trong nhà. Cô gái nghèo được cụ Arnơ nuôi không có trong số người chết. Phải chăng cô đã trốn thoát, hay bọn kẻ cướp đã bắt cô đi rồi? Mọi người ngạc nhiên hỏi nhau.

Nhưng khi lục soát kỹ lại căn phòng, họ tìm thấy cô trốn trong khe hở giữa lò sưởi lớn và bức tường. Cô đã nép mình trong đó khi xảy ra cuộc tàn sát. Tuy không bị vết thương nào, cô vẫn kinh hoàng đến nỗi không còn nói nói một câu, trả lời nổi một tiếng.



TRÊN BẾN TÀU


Tôraranh đưa cô gái đáng thương vừa thoát chết về nhà mình. Bác rất thương cô, nên nuôi cô trong căn lều chật chội của mẹ con bác. Bác nghĩ:

"Đó là việc duy nhất mình còn có thể làm được để tỏ lòng biết ơn đối với cụ Arnơ, người hay mua cá của mình và cho phép mình ngồi ăn cùng bàn. Dù mình nghèo khổ đến thế nào chăng nữa, mình cũng phải đưa cô bé ra thành phố với mình, hơn là để cô ấy ở lại đây với những người làm ruộng. Ở Marxt'răng có khối nhà tư sản kếch vù, cô bé có thể tìm việc làm ở một nhà nào đấy, và kiếm sống một cách đáng trọng"

Trong những ngày mới tới thành phố, cô gái nhỏ khóc từ sáng tới đêm. Cô than vãn đã mất tất cả những người thân yêu nhất. Song cô khóc người chị nuôi nhiều nhất, cô nói cô chỉ muốn chết theo chị cô và tiếc rằng mình đã trốn sau lò sưởi.

Khi Tôraranh ở nhà, mẹ bác im lặng lắng nghe cô gái than vãn. Nhưng sau khi bác lại ra đi, một buổi sáng bà nói với cô:

- Enxalin này, bà không có đủ tiền để nuôi cháu ăn cháu mặc đâu, trong khi cháu cứ ngồi không để nghĩ tới nỗi đau thương của mình. Cháu hãy đi với bà ra bến tàu và tập mổ cá nhé.

Từ đó, Enxalin theo bà cụ ra bến tàu và làm việc suốt ngày với mấy chị hàng cá. Phần đông họ còn trẻ và vui tính; họ hỏi Enxalin vì sao cô lại buồn rầu và ít nói. Enxalin bèn kể cho họ nghe những sự kiện mà cô vừa chứng kiến cách đây ba hôm. Cô kể chuyện về ba tên cướp đã lọt vào nhà qua lỗ hổng trên mái nhà và đã giết tất cả những người thân yêu của cô.

Nhưng lúc cô đang nói, một bóng đen bỗng hắt xuống mặt bàn làm việc của cô. Ngước mắt lên, cô thấy đứng trước mặt cô là ba chàng quý tộc đội mũ rộng vành có gài lông chim, mặc quần áo nhung, phồng to,viền toàn bằng lụa và vàng.

Một người có vẻ là bề trên của hai người kia. Anh ta có bộ mặt xanh xao, không để râu, mắt chõm sâu. Có vẻ như anh ta vừa ốm dậy. Mặt khác, anh ta lại tỏ ra là một kỵ sĩ vui tính và mạnh dạn, đi dạo trên bến tàu ngập nắng như chỉ để cho mọi người ngắm bộ quần áo sang trọng và khuôn mặt điển trai của mình.

Enxalin ngừng tay làm việc và ngừng luôn cả câu chuyện đang kể. Cô há miệng, mở to đôi mắt ngắm chàng thanh niên lạ mặt. Còn anh ta thì mỉm cười với cô.

- Không phải chúng tôi đến đây cốt để làm cô sợ đâu, cô em xinh đẹp ạ, - anh ta nói. - Nhưng xin cô cho phép chúng tôi cùng được nghe câu chuyện của cô.

Tội nghiệp cho Enxalin! Cả đời cô đã bao giờ được gặp một chàng trai như vậy! Cô đành im lặng và cúi xuống làm việc.

Song chàng trai lạ mặt lại nói tiếp:

- Cô em đừng sợ. Chúng tôi là những người Xcốtlen. Nhưng đến đây, chúng tôi lại thấy tất cả các vịnh và các eo biển đều bị đóng băng, thế là bọn tôi phải dừng lại và chờ. Chúng tôi chẳng có việc gì làm cả, vì thế chúng tôi đi dạo chơi trên bến để gặp gỡ mọi người. Chúng tôi rất sung sướng nếu được nghe cô kể chuyện cô.

Enxalin hiểu anh ta nói vậy là để cô có đủ thời gian bình tĩnh lại, rồi cô tự nhủ: "Mình phải cố gắng tỏ ra là mình không đến nỗi quá ngu độn khi nói chuyện với một chàng quý tộc. Chẳng phải mình xuất thân từ một gia đình sang trọng chứ không phải từ một gia đình ngư dân đó sao."

- Tôi đang kể vụ tàn sát khủng khiếp ở nhà giáo sĩ xứ Xonberga - cô nói, - nhưng nhiều người khác cũng có thể kể lại sự việc.

- Đúng, - chàng trai lạ trả lời, - nhưng đến bây giờ tôi mới biết rằng vẫn còn có người nhà cụ Arnơ sống sót cơ đấy.

Enxalin bèn kể lại lần nữa những hành vi tàn bạo của bọn hung đồ. Cô thuật lại những việc đám gia nhân quây lại che chở cho cụ Arnơ, và việc cụ giật kiếm treo trên tường rồi nhảy xổ vào lũ sát nhân, nhưng bọn này thắng tất cả mọi người. Bà cụ chủ nhà vồ lấy thanh kiếm của chồng, xông vào bọn ác ôn, nhưng chúng chế giễu bà và đánh bà ngã ngã gục bằng một thanh củi. Sau khi giết hết đàn ông, chúng đã lôi đám phụ nữ trốn trên lò sưởi xuống và giết họ. Người bị giết sau cùng là chị nuôi yêu quý của tôi, - Enxalin nói - chị ấy van xin chúng tha chết cho chị, hai tên trong bọn cướp muốn bằng lòng, song tên thứ ba nói rằng cần phải thủ tiêu tất cả mọi người, rồi hắn đâm dao vào tim chị nuôi của tôi.

Trong lúc Enxalin kể lại cuộc tàn sát ba chàng quý tộc không nói một tiếng. Họ không hề đưa mắt nhìn nhau, nhưng tại họ căng ra chừng như nghe chăm chú lắm, mắt họ nẩy lửa, đôi lúc môi họ hé mở để lộ hàm răng sáng loáng.

Mắt rưng rưng lệ, Enxalin không hề nhìn lên một lần nào trong lúc kể chuyện, nên cô không thấy người thanh niên đứng trước mặt cô có đôi mắt và hàm răng của chó sói. Chỉ sau khi kể xong, cô mới lau nước mắt. Nhưng khi gặp ánh mắt Enxalin, anh ta liền thay đổi ngay nét mặt.

- Này cô gái xinh đẹp, cô đã nhìn rõ bọn sát nhân, vậy nếu cô gặp lại chúng, chắc cô sẽ dễ dàng nhận ra chúng nhỉ?

- Tôi chỉ trông thấy chúng qua ánh lửa của những cây củi đang cháy mà chúng rút từ trong lò sưởi để soi sáng trong lúc chúng giết người. - Enxalin trả lời. - Nhưng tôi tin rằng Chúa sẽ giúp tôi nhận ra chúng. Và tôi ngày đêm xin Chúa cho tôi gặp lại chúng.

- Cô nói gì vậy? - Người thanh niên nói. - Chẳng phải là bọn khát máu đã chết rồi sao?

- Vâng, rất có thể như vậy, theo lời thiên hạ kể, - Enxalin trả lời, - Các nông dân đuổi theo chúng đã thấy dấu vết của chúng đi từ nhà giáo sĩ tới một cái hố trên mặt băng. Đến chỗ đó, họ thấy vết xe trượt, vết móng ngựa và vết giày đinh lớn. Nhưng qua lỗ hổng đó thì chẳng còn dấu vết gì trên mặt băng nữa, vì thế họ tin rằng ba tên sát nhân đã chết.

- Còn cô, cô có tin không? - Người lạ mặt hỏi.

- Có chứ. Tôi cho rằng chúng đã chết đuối. - Enxalin đáp. - Tuy vậy, tôi vẫn ngày ngày cầu xin Chúa cho chúng còn sống. Tôi muốn chúng còn sống để tôi có thể rút trái tim chúng ra khỏi lồng ngực của chúng. Tôi muốn chúng còn sống để tôi được thấy thân thể chúng bị cắt ra từng mảnh và trói vào bánh xe cực hình.

- Nhưng cô làm thế nào để đạt được mục đích đó, trong khi cô chỉ là một cô gái yếu ớt?

- Nếu chúng còn sống, - Enxalin kêu lên, - tôi sẽ tìm được cách để chúng không thoát khỏi trừng phạt. Tôi thà chết còn hơn để chúng thoải mái. Chúng có thể mạnh hơn tôi, nhưng dù sao chúng sẽ không thoát khỏi tay tôi đâu.

Người lạ mặt phá lên cười giễu cợt, nhưng Enxalin dậm chân nói:

- Nếu chúng còn sống, tôi sẽ nhớ rằng chúng đã phá tan tổ ấm của tôi, cho tôi thành một cô gái khốn khổ phải ra mổ cá ngoài bến tàu lạnh giá. Tôi sẽ nhớ rằng chúng đã giết tất cả những người thân yêu của tôi, nhất là chúng đã kéo chị nuôi tôi ra khỏi chỗ nấp, đã giết chị ấy, một người rất tốt đối với tôi.

Nhưng trước cơn giận dữ của cô gái nhỏ yếu này, ba người lính chiến Xcôtlen lại cười ầm ĩ. Họ cảm thấy vui đến nỗi phải bỏ đi ngay để Enxalin khỏi bực mình vì niềm vui ấy. Họ rời bến tàu, đi vào một ngõ hẹp dẫn tới chợ. Họ đã đi khuất từ lâu mà Enxalin vẫn còn nghe thấy tiếng cười giễu cợt chói tai của họ.



NỮ THIÊN SỨ


Tám ngày sau khi bị giết hại, cụ Arnơ được an táng tại nhà thờ Xônberga, và cũng hôm đó, người ta triệu tập một cuộc họp lớn tại quảng trường Branơhốc để mở cuộc điều tra về vụ tàn sát.

Cụ Arnơ rất có danh tiếng ở Bôhuxlăng, nên đám tang của cụ rất đông, cả người ở quần đảo lẫn người trên đất liền đều đến, cứ như một đội quân tập hợp quanh vị chỉ huy của mình. Đám người đi lại trên đường từ nhà thờ Xônberga tới Branơhốc đông đến nỗi không có tấc đất nào mà tuyết không bị dẫm nát.

Đến khuya, khi mọi người đã giải tán, bác bán cá Tôraranh đánh xe vào con đường chạy từ Xônberga đến Branơhốc.

Ngày hôm ấy, Tôraranh đã nói chuyện với rất nhiều người. Bác đã kể đi kể lại nhiều lần hoàn cảnh cụ Arnơ bị giết. Bác đã được thết đãi no nê tại cuộc họp, và đã uống rất nhiều bia với những người khách xa.

Tôraranh thấy mệt mỏi, bèn nằm xuống trong xe. Bác cảm thấy buồn bã vì cụ Arnơ đã ra đi. Và khi tới gần nhà giáo sĩ, những ý nghĩ càng ưu sầu hơn ám ảnh bác.

- Grim ơi, - bác nói, nếu như tao tin vào những tiếng mài dao báo trước mà bà chú nhà nghe thấy thì tao đã ngăn chặn được tai họa rồi. Tao cứ nghĩ đến chuyện đó hoài, Grim ạ, và tao rất khổ tâm, cứ như là tao đã góp phần đẩy cụ Arnơ sang thế giới bên kia ấy. Mày hãy nhớ lời tao nói với mày bây giờ; lần sau, nếu như tao nhận thấy một điềm báo trước như thế, tao sẽ tin ngay và tao sẽ ra tay.

Trong khi Tôraranh nằm nửa thức nửa ngủ trong xe, con ngựa được kéo xe đi tự do, và khi tới nhà giáo sĩ Xonberga, theo thói quen, nó vượt qua cổng chắn trước ngôi nhà rồi đi thẳng về phía chuồng ngựa. Tôraranh vẫn không biết gì. Mãi tới khi con ngựa đứng lại, bác mới ngồi nhỏm dậy nhìn xung quanh. Bác rùng mình thấy mình đang ở trong sân cái nhà mà cách đây mới một tuần, bao nhiêu người đã bị giết hại.

Bác vội túm lấy dây cương, định gò cho con ngựa phải quay lại đường cái, nhưng lúc ấy, một người vỗ vào vai bác làm cho bác quay đầu lại. Sau lưng bác là ông lão mã phu làm việc tại nhà giáo sĩ từ lâu lắm rồi.

- Có việc gì vội mà bác phải ra đi ngay tối nay vậy, bác Tôraranh? - Người đầy tớ già nói. - Hãy vào trong phòng đi, cụ Arnơ đang đợi bác đấy.

Không biết cơ man nào là ý nghĩ bỗng tràn ngập đầu óc Tôraranh. Bác mơ hay tỉnh đây? Lão mã phu Ôlôp mà bác đang thấy trước mặt bác đây, tươi tỉnh khỏe mạnh, mới tuần trước chính bác nhìn thấy lão nằm chết bên cạnh nhiều người khác, với một vết chém toang hoác nơi cổ.

Tôraranh càng nắm chặt dây cương. Tốt nhất là chạy khỏi nơi đây cho thật nhanh, bác nghĩ. Song bàn tay lão mã phu Ôlôp vẫn đặt trên vai và lão vẫn khẩn khoản mời bác vào nhà.

Tôraranh nôn nóng tìm cớ để từ chối: "Tôi không định đến quấy rầy cụ Arnơ trong lúc đêm khuya khoắt này, - bác nói, - đó là tại con ngựa của tôi tự đi vào sân nhà mà tôi không biết. Tôi cần phải đi ngay để tìm chỗ ngủ lại đêm nay. Nếu cụ Arnơ muốn gặp tôi thì ngày mai tôi sẽ trở lại."

Nói rồi, Tôraranh vươn người lên phía trước và đập dây cương vào con ngựa, giục nó đi tiếp. Song vô ích, ngay lúc ấy, lão đầy tớ đã đứng bên đầu ngựa, nắm chặt hàm chiếc, bắt nó phải đứng yên.

- Đừng có bướng bỉnh vậy Tôraranh - lão nói, - Cụ Arnơ vẫn chưa đi ngủ đâu. Cụ đang đợi bác đấy. Bác hẳn biết rõ ở đây, bác sẽ có một chỗ nghỉ tốt chẳng kém gì ở bất kì nơi nào khác trong giáo khu này.

Tôraranh muốn phân trần bác không thích nghỉ đêm trong một ngôi nhà không có mái. Nhưng trước khi nói, bác ngước mắt nhìn về phía ngôi nhà, và lạ thay, ngôi nhà cổ thấp vẫn đứng sừng sững trước mặt bác, nguyên vẹn và đẹp đẽ, y như trước khi xảy ra vụ hỏa hoạn.

Bác giương to đôi mắt, giụi đi giụi lại, nhưng chẳng thể nghi ngờ gì được cả, ngôi nhà của giáo sĩ vẫn nguyên lành với mái rơm phủ đầy tuyết. Một ngọn khói vẫn luồn qua lỗ trống và những tàn lửa vẫn tóe lên. Qua những lá cửa chớp không khép kín, ánh sáng trong phòng lọt ra in trên nền tuyết bên ngoài.

Đối với một người khách đã lang thang rất lâu trên đường băng giá, chẳng có gì êm ái hơn là được trông thấy ánh lửa từ một căn phòng ấm áp soi rạng bóng tối bên ngoài. Nhưng nhìn thấy thế, Tôraranh càng sợ hãi. Bác quất vào con ngựa đang đá chân lồng lên, song không thể làm cho nó rời khỏi cửa chuồng ngựa lấy một bước.

- Thôi vào đi, Tôraranh, - lão đầy tớ lại nói. - Tôi cứ tưởng rằng không bao giờ bác lại muốn phải tự trách mình trong chuyện này nữa.

Thế là Tôraranh nhớ lại lời hứa của mình lúc ở trên đường, và, đang đứng vung roi giận dữ trên xe, bác bỗng trở nên hiền dịu như một con lừa.

- Thôi được, Olôp, tôi vào đây, - bác vừa nói vừa nhảy xuống xe. - Quả thật, tôi không muốn phải tự trách mình trong chuyện này nữa. Hãy dẫn tôi tới gặp cụ Arnơ.

Song, trong mọi chặng đường đã đi trong cuộc đời, Tôraranh chưa thấy chặng nào lại mệt nhọc vất vả bằng đoạn đường bác phải đi từ sân vào trong nhà này.

Khi cánh cửa mở ra, Tôraranh nhắm mắt lại để khỏi phải nhìn vào bên trong. Bác cố làm cho mình can đảm lên bằng cách nghĩ tới cụ Arnơ. "Cụ đã cho mình bao nhiêu bữa ăn ngon lành, cụ đã mua cá mình ngay cả khi trạn thức ăn của cụ còn đầy ắp. Lúc còn sống, bao giờ cụ cũng đối xử tốt với mình, vậy thì bây giờ khi đã chết, chắc cụ cũng chẳng muốn làm hại mình đâu. Có lẽ cụ muốn nhờ mình một việc gì chăng? Mình không nên quên rằng mình cần thể hiện lòng biết ơn của mình ngay cả với người đã chết".

Thế rồi, Tôraranh mở mắt nhìn xung quanh. Trong phòng, mọi vật vẫn y nguyên như khi bác đến thăm lần vừa rồi. Bác nhận ra cái lò sưởi lớn xây liền vào tường và những tấm thảm tự dệt lấy căng xung quanh căn phòng. Bác nhìn thật lâu những bức tường, trần nhà, và sàn nhà trước khi dám nhìn vào chiếc bàn và chiếc ghế mà cụ Arnơ vẫn thường ngồi.

Cuối cùng, bác quyết định nhìn vào đó, và bác thấy cụ Arnơ đang ngồi bên bàn, hoàn toàn khỏe mạnh, ở giữa bà vợ và ông phó mục sư, y như tám ngày trước đây. Cụ dường như vừa mới ăn xong, cụ đã đẩy đĩa thức ăn ra, và chiếc thìa của cụ vẫn còn nằm trên bàn, trước mắt cụ. Mấy lão bộc và vú già ngồi quanh cụ nhưng vắng mặt một trong hai cô gái trẻ.

Tôraranh dừng lại hồi lâu nơi ngưỡng cửa, nhìn những người ngồi quanh bàn ăn. Tất cả mọi người đều có vẻ buồn bã lo lắng. Ngay cả cụ Arnơ trông cũng u buồn như mọi người khác, cụ phải tựa đầu vào một bàn tay.

Rồi Tôraranh thấy cụ ngẩng đầu lên:

- Anh đưa khách vào phải không? Olôp?

- Vâng, - người đầy tớ trả lời. - Đó là bác bán cá Tôraranh hôm nay bác đã dự cuộc họp ở Branơhốc.

Cặp mắt cụ Arnơ ánh lên vẻ hài lòng, và Tôraranh nghe thấy cụ nói:

- Lại gần đây chút nữa, Tôraranh, bác hãy kể cho chúng tôi nghe tin tức về cuộc họp. Tôi ngồi đợi bác từ tối tới giờ đấy.

Mọi sự diễn ra rất thật, rất tự nhiên, nên đôi lúc Tôraranh dần dần cảm thấy vững tâm hơn. Bác mạnh dạn bước về phía cụ Arnơ và tự hỏi rằng phải chăng đó chỉ là một giấc mơ dữ dội khi bác tưởng rằng cụ Arnơ bị sát hại. Không còn nghi ngờ gì nữa, sự thật là bác đã nằm mơ.

Nhưng khi bước vào trong phòng, theo thói quen bác đưa mắt nhìn về phía cái giường có tán che, thường lúc nào cũng có cái rương lớn bên cạnh. Cái rương có đai sắt không còn ở đó nữa, và Tôraranh rùng mình khi nhận thấy nó đã biến mất.

- Tôraranh đến cho chúng tôi biết những điều đã được quyết định ở cuộc họp. - Cụ Arnơ nói.

Tôraranh cố làm cái việc mà mình được yêu cầu. Bác kể về cuộc họp, về cuộc điều tra, song vẫn không thể tự chủ giữ cho đôi môi khỏi lập bập, cho lưỡi khỏi cứng đờ. Bác ấp úng, lắp bắp.

Cụ Arnơ ngắt lời bác rất nhanh:

- Hãy nói cái chính thôi, Tôraranh ạ. Người ta đi tìm ra bọn sát hại chúng tôi và trừng trị chúng chưa?

Và Tôraranh đã dám trả lời:

- Thưa cụ chưa. Bọn sát nhân đã nằm dưới đá vịnh Hakơ rồi. Thế thì cụ bảo làm sao xuống đấy để tìm chúng được?

Nghe Tôraranh trả lời, cụ Arnơ có vẻ hơi hoạt bát lại như xưa. Đấm mạnh xuống bàn, cụ kêu lên:

- Bác nói gì vậy, Tôraranh? Có thật là ngài pháp quan ở Bôhu đã triệu tập một cuộc họp với các nhân viên pháp luật và viên lục sư của ngài, và chẳng một ai có thể thưa với ngài là có thể tìm thấy bọn hung thủ ở đâu không?

- Thưa cụ đúng như vậy, - Tôraranh trả lời. - Không có một người đang sống nào có thể nói với ngài pháp quan điều ấy!

Cụ Arnơ cau mày lại một lúc, mắt nhìn thẳng trước mặt. Rồi cụ lại quay về phía Tôraranh:

- Ta biết bác hết lòng với ta, Tôraranh ạ. Vậy bác có thể cho ta biết ta có thể trả thù bọn giết ta bằng cách nào không?

- Thưa cụ, Tôraranh đáp, - tôi hiểu rõ cụ muốn trả thù những kẻ độc ác đã cướp mất tính mệnh của cụ. Nhưng trong tất cả những người đang sống trên trái đất của Chúa này, chẳng ai có thể giúp cụ trong việc này được.

Nghe xong câu trả lời đó, cụ Arnơ ngồi trầm ngâm suy nghĩ, vẻ rầu rĩ. Hai người im lặng một lúc, rồi Tôraranh yêu cầu cụ Arnơ:

- Thưa cụ, tôi đã làm điều cụ mong muốn, tôi đã kể lại với cụ tình hình cuộc họp. Cụ không còn điều gì hỏi tôi nữa chứ, và cụ cho phép tôi cáo từ chứ ạ?

- Khoan đã, Tôraranh, - cụ Arnơ nói. - Trước khi đi, bác hãy cam đoan với tôi một lần nữa rằng trong số những người đang sống, không có ai có thể trả thù cho chúng tôi được.

- Nếu như tất cả mọi người ở Bôhuxlăng và Na Uy tập họp lại để đi tìm bọn sát nhân thì họ cũng không thể tìm thấy chúng đâu.

Nhưng cụ Arnơ nói:

- Thôi được, nếu những người đang sống không có khả năng giúp chúng tôi thì chúng tôi sẽ tự giúp mình vậy.

Rồi cụ cất tiếng to đọc kinh Lạy Cha không phải bằng tiếng Đan Mạch mà bằng tiếng La Tinh, như hồi xưa, mọi người trong nước quen làm.

Đọc một tiếng, cụ lại chỉ tay vào một người đang ngồi quanh bàn với cụ. Và cụ cứ làm như vậy cho đến lúc cụ cầu tiếng amen. Tới đây, ngón trở của cụ chỉ vào cô cháu nội của cụ.

Cô gái đứng lên ngay, và cụ nói với cô:

- Cháu biết việc cháu phải làm chứ?

Cô gái liền rên rỉ và nói:

- Xin ông đừng giao cho cháu một việc như vậy. Việc ấy quá sức một con bé yếu ớt như cháu.

- Sao lại không, chính cháu phải làm nhiệm vụ này, - cụ đáp, - cháu làm là đúng, bởi vì cháu có lý do hơn ai hết để đòi được trả thù. Trong chúng ta đây, không ai thiệt nhiều năm sống bằng cháu, vì cháu là người ít tuổi nhất.

- Cháu không đòi trả thù ai cả, - cô gái nói.

- Thôi lên đường ngay đi, - cụ nói tiếp, - cháu sẽ không đơn độc đâu, vì cháu biết rồi đấy: hai người tám hôm trước đây đã ngồi với chúng ta bên bàn này là ở trong số người đang sống.

Nghe xong vậy, Tôraranh đoán biết rằng cụ Arnơ chỉ định bác phải bước vào cuộc chiến đấu với bọn hung ác giết người. Bác kêu lên:

- Lạy Chúa, tôi van cụ, thưa cụ.

Ngay lúc đó, dường như bác trông thấy ngôi nhà và cụ Arnơ biến mất trong một đám mây mù. Bác cảm thấy mình rơi xuống từ một độ cao ngợp người, rồi ngất đi.

Lúc bác tỉnh lại thì trời đang rạng đông. Bác thấy mình nằm ngay trên mặt đất trong sân nhà giáo sĩ. Con ngựa và cỗ xe vẫn ở cạnh bác, còn con Grim thì đang ráng hết sức mà tru lên.

"Tất cả chỉ là một giấc mơ thôi, - Tôraranh tự bảo, - mình thấy rõ như vậy. Ngôi nhà này vắng vẻ và đang đổ nát. Mình chẳng hề nhìn thấy cụ Arnơ mà mình cũng chẳng thấy ai nữa cả. Nhưng giấc mơ làm mình kinh hãi đến nỗi ngã lăn xuống đất."

DƯỚI ÁNH TRĂNG

Nửa tháng sau khi cụ Arnơ bị giết có đôi ba đêm trăng đẹp. Một tối nọ, Tôraranh đánh xe đi trên những con đường ngập ánh trăng. Bác cứ phải luôn tay ghìm ngựa lại tựa hồ như bác rất khó định hướng đi.

Tuy vậy, không phải bác đi xuyên qua một cánh rừng hoang vu mà trước mặt bác hình như là một cánh đồng mênh mông trên đó rải rác những gò đá nhỏ.

Một lớp tuyết lấp lánh phủ khắp vùng. Vì lặng gió nên tuyết rơi rậm và đều, không cuốn thành lốc và cũng không dồn đống.

Nhìn hết tầm mắt, vẫn chỉ là một khoảng trống bao la trắng xóa, vẫn chỉ những gò đá nhỏ.

- Grim này, - Tôraranh lên tiếng, - nếu chiều nay, đây là lần đầu tiên chúng ta nhìn thấy vùng này, chắc chúng ta sẽ tưởng tượng là đang đi qua một vài cái truông lớn đấy. Nhưng cũng có thể chúng ta sẽ lấy làm lạ là tại sao mặt đất lại bằng phẳng đến thế, và trên đường lại không có những hòn đá hoặc mỏ đá nào. Chúng ta sẽ phải tự hỏi vùng này là vùng nào vậy mà không có hố, không có rào, không có lấy một bụi cây, một ngọn cỏ khô nào chồi lên mặt tuyết. Và tại sao không hề có một dòng sông, một con suối, trong khi ta vẫn thường nhìn thấy những dải nước xẫm cắt ngang những cánh đồng trắng xóa, ngay cả những lúc trời lạnh nhất.

Những ý nghĩ đó làm cho Tôraranh thấy rất vui và cả Grim cũng thấy hài lòng, nó nằm im không nhúc nhích trên xe, chỉ hấp háy đôi mắt. Nhưng Tôraranh vừa chấm dứt bài diễn văn của bác chưa được mấy chốc thì đã đến trước một cây hải tiêu.

- Nếu chúng ta không phải là dân vùng này, Grim ạ, - Tôraranh lại nói, - ắt chúng ta sẽ thắc mắc đấy là cái truông nào mà lại dựng những cái mốc như ta thường gặp trên mặt biển. Nói cho cùng thì đây không thể chỉ toàn là nước được. Thế nhưng tất cả những gò đá dường như nối liền với nhau này có phải là những hòn đảo lớn đảo nhỏ bị những đợt sóng động ngăn cách chăng? Không, chúng ta không thể tin như vậy được, phải không Grim?

Tôraranh cười, còn Grim thì vẫn nằm im. Tuy nhiên, trên đường đi tiếp, Tôraranh gặp một gò đá ngầm nhô cao, và bác phải đi vòng quanh. Bất chợt, bác kêu lên như nhìn thấy một cái gì kỳ diệu. Bác ngạc nhiên đến nỗi buông rơi dây cương và giơ hai tay lên trời.

- Grim ơi, mày không muốn tin rằng chúng ta đang đi trên mặt biển, vậy bây giờ chắc mày thấy rõ mày đang ở đâu chứ. Mày đứng dậy đi, mày sẽ nhìn thấy một chiếc tàu lớn ngay trước mặt chúng ta, mày không thể phủ nhận bằng chứng này, và mày sẽ phải thú nhận rằng chúng mình đang vượt biển.

Tôraranh còn dừng xe lại một lúc nữa để ngắm con tàu đang bị băng kìm giữ. Nó có vẻ như lạc đường giữa đồng bằng tuyết phủ này.

Nhìn thấy một cột khói nhẹ bốc từ boong mũi tàu, Tôraranh bèn đến bên con tàu và lên tiếng gọi thuyền trưởng, hy vọng sẽ bán được cá cho ông ta. Giờ bác chỉ còn vài con cá thu tươi dưới sàn xe, vì suốt cả ngày hôm ấy, bác đã đi một vòng tới mọi con tàu nhỏ bị mắc băng trong quần đảo, và bác đã bán hết xe cá.

Trền tàu, thuyền trưởng và các thủy thủ đang buồn đến chết được. Họ xô ra mua cả, không phải vì họ đang cần cá mà chỉ để có người nói chuyện.

Khi mọi người đã rời con tàu, đến bên Tôraranh, bác làm ra vẻ ngây thơ và nói chuyện về thời tiết.

- Từ xưa, chẳng có năm nào đẹp trời như năm nay, bác nói. - Đã gần ba tuần nay, trời rất lạnh mà không có gió, điều đó ít xảy ra ở quần đảo này.

Người thuyền trưởng, vốn đang bị mắc kẹt với con tàu chở đầy cá mòi trong một cái vịnh đóng băng gần Marxt'răng đúng vào lúc ông chuẩn bị ra khơi, bèn nhìn Tôraranh với vẻ mặt quàu quạu và vặn lại:

- Thật đấy chứ? Thế này mà gọi là đẹp trời à?

- Tôi nói khác thế nào được? - Tôraranh hỏi lại với vẻ hồn nhiên trẻ thơ. - Trời thì sáng và xanh, gió thì lặng, ban đêm cũng đẹp như ban ngày. Chưa bao giờ tôi có thể đánh xe đi trên băng hết tuần này sang tuần khác như thế này. Ít khi biển đóng băng tới tận đáy. Nếu như có năm nào biển đóng băng thì chỉ vài ngày sau là gió bão đã làm tan băng rồi.

Người thuyền trưởng vẫn u sầu rầu rĩ, ông chẳng đáp lại những lời ba hoa của Tôraranh.

Tôraranh bèn hỏi tại sao ông ta không đến Marxt'răng chơi, vì từ đây đến đó đi bộ không quá nửa giờ. Ông ta cũng không trả lời khiến Tôraranh đoán rằng ông ta không muốn rời con tàu, dù chỉ trong chốc lát, vì sợ không sẵn sàng nhổ neo ngay sau khi băng tan. "Thật ít khi mình thấy một người có đôi mắt lộ vẻ nhớ nhà đến u sầu như vậy". - Tôraranh nghĩ thầm.

Phải giam mình giữa những dãy núi ngầm bao nhiêu ngày nay, không thể giương buồm ra khơi và mất nhiều thời gian đắm chìm trong suy tư, người thuyền trưởng nói với Tôraranh:

- Bác đã đi khắp đất nước và được nghe mọi chuyện, vậy bác có biết tại sao năm nay Chúa lại đóng cửa mọi đường ra biển trong một thời gian dài và giam hãm chúng tôi như thế này không?

Nghe thấy thế Tôraranh không cười nữa, song làm như không hiểu và nói:

- Tôi không biết ông định nói gì?

- Thế này, - thuyền trưởng nói, - có một năm chúng tôi bị hãm lại ở cảng Berghen, suốt một tháng trời, ngày nào cũng có gió ngược đến nỗi không một chiếc tàu nào giương buồm ra khơi được. Đó là vì có một thằng ăn cắp của nhà thờ đang ẩn náu trong một chiếc tàu đang phải nằm lại đó, và nếu như không có bão to thì hắn đã thoát khỏi vòng pháp luật rồi. Cuối cùng người ta đã tìm ra nơi hắn trốn và người ta vừa mới dẫn hắn lên mặt đất là trời lập tức đẹp trở lại, và gió thuận lại thổi. Bây giờ chắc bác đã hiểu ý tôi khi hỏi bác tại sao Chúa lại đóng mọi cửa ra biển?

Tôraranh đứng lặng đi một lát. Có lúc bác đã định mạnh bạo nói lên sự thật, song bác lại đổi ý.

- Vì bị giam chân mãi giữa những tảng đá này nên ông mới có những ý nghĩ u sầu đó thôi, - bác nói. - Ông không đi Marxt'răng sao? Ở đó rất vui, ông cứ tin tôi đi. Hàng trăm người ngoại quốc đang ở đó, họ chẳng lo chuyện gì khác ngoài việc uống rượu và nhảy múa.

- Nhưng vì sao ở Marxt'răng người ta lại vui chơi dữ vậy? - Thuyền trưởng hỏi.

- Ồ, - Tôraranh đáp, ở đó dân đi biển đông như kiến, tàu của họ cũng bị kẹt giữa băng như tàu của ông ấy. Có cả nhiều dân chài vừa mới đánh cá mối xong nhưng chưa về nhà được vì trời lạnh. Hơn nữa, còn có rất nhiều người lính đánh thuê người Xcốtlen giải ngũ, đến Marxt'răng để đợi dịp trở về quê hương. Ông tưởng những con người lương thiện này đều mang bộ mặt đưa đám và không nhân dịp tốt để vui sống hay sao?

- Rất có thể những người đó sẵn lòng vui chơi, song về phần tôi, tôi cho rằng cứ nằm ở đây là tốt nhất, thuyền trưởng trả lời.

Tôraranh liếc nhìn ông ta rất nhanh. Thuyền trưởng người cao và gầy, đôi mắt ông ta trong suốt lộ vẻ buồn phiền.

"Chẳng có ai kể cả mình có thể làm cho con người này vui lên được." - Tôraranh tự nhủ.

Song thuyền trưởng nối lại câu chuyện một lần nữa:

- Những người Xcốtlen ấy có phải người tử tế không?

- Ông là người sẽ đưa họ về Xcốtlen chăng? - Tôraranh hỏi lại.

- Đúng, tôi chở hàng đi Ezimbuốc, vừa rồi có một người Xcốtlen tới đây đề nghị tôi chở anh ta và mấy người bạn. Nhưng tôi không muốn cho một bọn mọi rợ như vậy lên tàu. Vì thế tôi nói để suy nghĩ ít hôm đã. Bác có nghe nói gì về họ không? Theo ý bác, tôi có thể liều nhận họ lên tàu được không?

- Tôi chẳng nghe nói gì về họ cả, chỉ thấy thiên hạ khen họ là những chàng trai dũng cảm. Ông có thể yên tâm mà nhận họ.

Nhưng đúng vào lúc Tôraranh nói như vậy, con chó của bác nhổm dậy trong xe, hếch mũi lên trời và tru l ên. Tôraranh lập tức dừng lại không dám khen những người Xcốtlen nữa. Bác nói với con chó:

- Mày làm sao thế, Grim? Chắc mày thấy tao lần chần ở đây quá lâu, tán róc mất nhiều thời gian chứ gì?

Bác liền sửa soạn lên đường.

- Thôi, xin từ biệt các ông, - bác nói.

Tôraranh trở về Marxt'răng qua eo biển nằm giữa hai hòn đảo Klôvơrôn và Kôn. Khi về gần tới thành phố, bác nhận thấy không phải chỉ có mình bác trên mặt băng. Ánh trăng sáng ngời soi vào một người đàn ông có dáng hiên ngang bước đi trên tuyết. Tôraranh thấy anh ta đội một chiếc mũ gài lông chim và mặc bộ quần áo phồng sang trọng.

- Kìa, - Tôraranh nghĩ thầm, - đó chính là ngài Arsi, chỉ huy toán chiến binh Xcốtlen, chiều nay đã tới tận chiếc tàu kia để tổ chức chuyến đi trở về Xcốtlen.

Tôraranh đã đến sát bên Arsi. Chiếc xe trượt đã đuổi kịp cái bóng của anh ta đổ dài trên mặt đường, và con ngựa đã nện gót trên bóng chiếc mũ lông chim.

- Grim ơi, - Tôraranh nói, - liệu chúng ta có nên hỏi xem anh ta có muốn lên xe cùng về thành phố với chúng ta không?

Ngay lập tức, con chó chồm dậy, song Tôraranh đã đặt tay lên lưng nó:

- Yên nào, Grim thân mến, tao thấy màu không thích những người Xcốtlen.

Arsi vẫn không biết Tôraranh đã đến gần. Anh ta bước đi không hề ngoái lại phía sau. Tôraranh nhẹ nhàng cho xe lượn sang bên để vượt lên trước.

Lúc ấy, bác nhìn thấy phía sau người Xcốtlen sang trọng kia có một vệt gì giống cái bóng người khác nữa, một vật gì dài, mảnh, màu xám lướt nhẹ trên mặt tuyết, không để lại dấu chân mà cũng chẳng gây tiếng lạo xạo nào.

Anh chàng Xcốtlen bước những bước dài. Anh ta chẳng hề nhìn sang hai bên. Nhưng cái bóng xám mỗi lúc một sát vào người anh ta hơn, như muốn nói thầm vào tai anh ta.

Tôraranh cho xe chạy chậm lại để đi ngang với hai người kia. Và bác nhìn thấy rõ mặt người Xcốtlen dưới ánh trăng. Lông mày anh ta nhíu lại, nét mặt cau có, giận dữ, dường như anh ta đang bị những ý nghĩ phiền toái ám ảnh.

Tôraranh định vượt lên trước thì bỗng người Xcốtlen quay đầu lại như thể là hắn vừa nhận ra có người theo sau.

Tôraranh trông thấy rõ ràng một cô gái mặc bộ đồ lụng thụng đang lướt sau lưng Arsi, song Arsi không trông thấy cô ta. Cô ta đứng im lặng khi Arsi quay đầu lại, và cái bóng to lớn tối xẫm của anh ta chùm lên người cô ta.

Arsi lại tiếp tục bước thật nhanh, và cô gái lại đi theo anh ta, hình như có thì thầm điều gì đó vào tai Arsi.

Nhìn thấy thế, Tôraranh phát hoảng không thể chịu nổi, bác bật kêu lên và quất ngựa, thành thử bác đã phóng như điên về đến tận cửa nhà bác và con ngựa ướt đầm mồ hôi.



SĂN ĐUỔI

1


Thành phố với những ngôi nhà đủ các cỡ nằm trên phần đảo Marxt'răng hướng về trung tâm quần đảo và được nhiều đảo lớn đảo nhỏ bao bọc. Ở đó, dân cư đi lại như mắc cửi trên các đường phố lớn nhỏ. Ở đó, có bến cảng san sát tàu thuyền. Ở đó, người ta ướp cá mòi và mổ cá; ở đó, một ngôi nhà thờ đứng sừng sững giữa một bên là nghĩa địa, một bên là tòa thị chính. Và cũng ở đó, người ta đã xây một cái chợ. Những cây đại thụ cành lá đu đưa che mát thành phố trong những ngày hè.

Ở phía tây trông ra biển, đảo Marxt'răng chẳng có đảo nào khác hoặc dãy đá ngầm bao bọc, chỉ thấy những tảng đá trơ trụi, hoang vu, và những doi đất nham nhở trườn ra trên mặt sóng. Ở đó, một vài bụi cây thanh thảo vươn những cây đầy gai mọc rậm rạp quanh những hốc rái cá, những hàng rào và những tổ vịt biển và mòng biển. Song không có lấy một con đường nhỏ, một mái nhà, một bóng người.

Túp lều của Tôraranh nằm ở tít đỉnh hòn đảo, một phía trông xuống thành phố và một phía trông ra một dải đất hoang vu.

Khi Enxalin mở cửa, trước mặt cô là những tảng đá lớn trơ trụi, từ đó có thể nhìn ra xa về phía tây tới tận đường chân trời mờ mờ ngoài khơi.

Tất cả thủy thủ và dân chài đang bị băng giá giữ chân lại ở Marxt'răng đều phải đi ngang qua nhà Tôraranh để trèo lên những mỏm đá để xem xét tình hình lớp băng phủ trên các vịnh và eo biển.

Enxalin thường đứng ở ngưỡng cửa túp lều, mắt dõi theo những người đang trèo lên. Lòng cô tan nát kể từ khi cô gặp phải tai họa vô biên kia. Cô nghĩ: "Sung sướng thay những người vẫn còn chút gì để mong muốn. Chứ như mình thì thật chẳng còn ao ước cái gì trên đời này nữa".

Một buổi tối, Enxalin trông thấy một người cao lớn, đội mũ gài lông chim, đứng trên tảng đá như mọi người, nhìn về phía tây, phía biển khơi. Cô nhận ra ngay đó là Arsi, vị chỉ huy người Xcốtlen, kẻ đã nói chuyện với cô trên bến tàu.

Khi đi ngang qua nhà Tôraranh, anh ta ngoái đầu lại và nhìn thấy Enxalin đang đứng trước cửa, mắt đẫm lệ.

- Tại sao cô lại khóc? - Anh ta hỏi và dừng lại bên cô.

Enxalin trả lời:

- Tôi khóc vì tôi chẳng còn gì để mong ước cả. Khi tôi thấy anh trèo lên những tảng đá ngắm nhìn biển khơi, tôi nghĩ: "Chắc ở nơi đó, phía bên kia biển, có một xứ sở mà anh sắp được thấy trở lại".

Những lời nói này làm Arsi cảm động, anh ta nói:

- Bao nhiêu năm nay, chẳng ai nói với tôi về quê hương tôi cả. Có trời biết nhà cửa cha tôi bây giờ ra sao. Tôi rời nhà đi phục vụ trong quân đội nước ngoài từ khi mười bảy tuổi.

Và thế là Arsi theo Enxalin vào trong nhà, kể về nhà cha anh cho cô nghe.

Enxalin ngồi lặng yên, ân cần lắng nghe Arsi kể chuyện. Mỗi lời nói của anh ta đều làm cô vui thích.

Đến lúc phải ra về, Arsi xin phép Enxalin được hôn cô. Enxalin từ chối và bước vội ra cửa, nhưng Arsi đã chặn lối định cưỡng ép cô.

Ngay lúc ấy, cánh cửa phòng bật mở, bà chủ nhà đột ngột bước vào. Arsi lùi lại và đành bắt tay từ biệt cô, rồi bước nhanh ra ngoài.

Bà mẹ Tôraranh nói với cô:

- Cháu đã nhờ người đi tìm bà thật đúng lúc. Một cô gái trẻ ở một mình trong phòng với mọt người đàn ông như ngài Arsi này là không nên. Cháu biết đấy, lính đánh thuê thì chẳng cần gì đến danh dự, đến lương tâm!

- Cháu đã nhờ người đi tìm bà ư? - Enxalin thốt lên, ngạc nhiên.

- Chứ sao nữa, - bà cụ trả lời. - Khi bà đang làm trên bến thì có một cô gái lạ mặt đến nói với bà rằng cháu nhắn bà về ngay.

- Cô gái ấy trông thế nào? Enxalin lại hỏi.

- Bà không nhìn kỹ cô ấy nên không thể tả lại được, nhưng bà để ý cô ấy đi trên tuyết hết sức nhẹ nhàng, không hề có tiếng bước chân.

Nghe nói vậy, Enxalin bỗng tái mặt, cô thì thào: "Thế thì đó là một thiên thần, một thiên thần đến báo tin và đưa bà về nhà".



2


Một ngày khác, Arsi lại tới nhà Tôraranh nói chuyện với Enxalin.

Trong nhà chỉ có hai người ngồi chuyện trò vui vẻ với nhau. Arsi nói với Enxalin rằng cô nên theo anh ta về Xcốtlen, anh sẽ xây cho cô một tòa lâu đài và cô sẽ trở thành một bà chủ lâu đài sang trọng.

Anh ta nói rằng cô sẽ có hàng trăm gia nhân phục dịch và cô sẽ được đi dự các vũ hội trong triều.

Enxalin im lặng nghe Arsi, cô không hề nghi ngờ rằng đó chỉ là những lời hươu vượn. Arsi thì nghĩ thầm rằng chưa bao giờ anh ta lại gặp một người con gái dễ đánh lừa như Enxalin.

Anh ta bỗng im bặt và nhìn vào bàn tay trái của mình.

- Có gì vậy, Arsi? - Enxalin hỏi. - Sao anh không nói gì nữa thế? Tay anh bị đau hay sao?

Arsi bối rối quay lại và nói với cô:

- Enxalin, em có nhìn thấy những sợi tóc cuốn quanh bàn tay anh không? Em có thấy cái lọn tóc màu vàng này không?

Khi Arsi bắt đầu nói, Enxalin không nhìn thấy gì cả; nhưng khi Arsi sắp dứt lời, cô nhận thấy một nắm tóc tơ màu vàng quấn hai vòng quanh tay anh chàng Xcốtlen.

Cô gái sợ hãi đứng phắt dậy kêu l ên.

- Arsi, những sợi tóc cuốn quanh tay anh là của ai vậy?

Anh nhìn cô, vẻ ngạc nhiên phân vân:

- Rõ ràng đó là những sợi tóc thật, Enxalin ạ, anh cảm thấy nó mềm mại và mát rượi trong bàn tay anh. Nhưng nó ở đâu ra nhỉ?

Cô gái nhìn bàn tay chăm chú đến nỗi con mắt cô như sắp sửa rơi ra.

- Tóc của chị nuôi em cuốn quanh bàn tay kẻ giết chị ấy cũng y như thế đấy, - cô nói.

Arsi bèn cười, rút nhanh tay về, và nói:

- Em và anh, Enxalin ạ, chúng ta đã hoảng sợ như trẻ con ấy. Chắc cái mà chúng ta tưởng là tóc chỉ là một tia nắng đẹp rọi qua cửa sổ thôi.

Tuy vậy, cô gái vẫn khóc và nói:

- Em cứ hình dung như mình đang nấp sau lò sưởi, nhìn thấy bọn giết người đang đâm chém. Than ôi, em cứ hy vọng cho đến phút cuối cùng bọn chúng không tìm thấy người chị nuôi yêu quý của em. Nhưng rồi một tên đã lôi chị ấy từ nơi ẩn nấp ra, và khi chị ấy cố thoát thân, hắn đã xoắn tóc chị ấy quanh bàn tay hắn để giữ lại. Chị đã quỳ xuống van xin hắn: "Tôi còn trẻ lắm, xin ông hãy cho tôi được sống, để tôi có thời gian hiểu được vì sao tôi tồn tại trên trái đất này. Tôi có làm hại gì ông đâu mà ông muốn giết tôi, mà ông không cho tôi được sống?" Hắn đã không thèm nghe và đã giết chị ấy.

Trong khi Enxalin nói, Arsi cau mày, quay mặt đi.

- Ôi mong sao có một ngày em sẽ gặp lại hắn! - Enxalin thốt lên và nhìn Arsi, hai tay nắm chặt.

- Em không thể gặp lại hắn nữa đâu, - Arsi nói, - hắn chết rồi.

Cô gái buông người xuống ghế và thổn thức.

- Arsi, Arsi, tại sao anh lại làm em nhớ đến những người đã khuất? Em sẽ khóc suốt cả buổi tối, suốt cả đêm nay. Anh hãy đi đi, Arsi vì lúc này em chỉ nghĩ đến những người đã mất, em chỉ nghĩ đến tình thương mến của chị nuôi em đối với em thôi.

Arsi không an ủi nổi cô, trái lại, nước mắt và những lời than vãn của cô đã đẩy anh ta ra khỏi nhà cô và anh ta quay về quán rượu với bạn hữu.



3


Arsi không hiểu vì sao anh ta luôn bị những ý nghĩ đen tối ám ảnh, chúng cứ dai dẳng đeo đuổi anh ta, cả trong khi nói chuyện với Enxalin lẫn khi nhậu nhẹt với bạn hữu. Dù anh ta có đi nhẩy tại các nhà dân chài hay dù có đi dạo liên miên trên mặt biển đã đóng băng, anh ta vẫn không tài nào dứt khỏi chúng được. "Tại sao mình cứ phải nhớ lại mãi những điều mà mình rất muốn quên đi? - Arsi nghĩ. - Hình như có một người nào đấy cứ theo sát mình và thì thầm vào tai mình. Mình có cảm giác như người ta chăng lưới quanh mình để chiếm đoạt mọi ý nghĩ của mình, chỉ để lại cho mình ý nghĩ duy nhất đó. Mình không thể trông thấy kẻ săn đuổi đang chăng bẫy mình, nhưng mình nghe thấy tiếng chân khi người ấy lướt theo mình. Cứ như một họa sĩ luôn đi trước mình, và biến mọi cái trước mặt mình thành một bức tranh duy nhất. Dù mình nhìn lên trời hay nhìn xuống đất, mình vẫn chỉ trông thấy có một cái đó thôi. Mình tưởng như có một người thợ đá đang đục thủng trái tim mình và nhét vào đó một nỗi đau độc nhất vô song. Mình không thể trông thấy người thợ đá, nhưng mình nghe tiếng anh ta đập gõ suốt ngày đêm. Người đó nói ôi trái tim bằng đá, ôi trái tim bằng đá, cuối cùng mày cũng phải khuất phục thôi. Cứ đục mãi, cuối cùng cũng nhét được nỗi đau ấy vào mày thôi."

Arsi có hai người bạn, đó là Phillip và Rêginan lúc nào cũng cặp kè bên Arsi. Họ lấy làm buồn cho Arsi cứ rầu rĩ hoài.

- Có việc gì thế? - Họ hỏi Arsi. - Tại sao mắt cậu long lên mà mặt cậu lại tái mét đi thế?

Arsi không muốn thú nhận điều đang day dứt trong lòng mình. Anh ta nghĩ: "Các bạn ta còn coi ta ra gì nếu như họ biết ta đã để cho mình có những ý nghĩ chẳng mang khí phách nam nhi như vậy. Họ sẽ không vâng lời ta nữa nếu họ biết rằng một việc làm, tuy là rất cần thiết, lại gây cho ta bao nỗi ăn năn."

Vì họ thúc ép quá, Arsi đành trả lời để cho họ khỏi nghi ngờ:

- Mấy ngày qua mình thấy một điều lạ lùng lắm. Mình không tài nào gần được một cô gái mà mình muốn được yêu. Lúc nào cũng như có một cái gì chen vào giữa mình và cô ấy.

- Có lẽ con bé ấy không yêu cậu đó thôi! - Rêginan nói.

- Có chứ, mình cho rằng cô ta muốn điều tốt cho mình, - Arsi trả lời, - tuy thế hình như có một cái gì luôn luôn che chở cho cô ta, khiến mình không thể chinh phục cô ta được.

Rêginan và Phillip cùng phá lên cười và kêu lên:

- Thôi đừng lo. Chắc chắn là bọn này sẽ đem con bé ấy đến cho cậu.

Chiều hôm đó Enxalin đi một mình trong ngõ hẻm để về nhà. Cô trở về mệt mỏi sau một ngày làm việc và nghĩ thầm: "Cuộc sống này thật là vất vả, và chẳng mang lại cho mình một chút vui thích nào. Mình phát ngấy lên vì phải ngồi cả ngày giữa đống cá nặng mùi. Mình phát chán lên vì phải nghe những tiếng cười đùa choe chóe của mấy bà. Mình cũng đâm chán vì những con mòng biển háu ăn cứ bay lượn trên bàn chực cướp từng mẩu các của mình. Ôi, nếu có một người nào đó đưa mình đi khỏi nơi đây, mình sé theo anh ta đến tận cùng trời cuối đất."

Khi Enxalin đi tới quãng đường tối nhất, Rêginan và Phillip từ bóng tối nhô ra, đến chào cô.

- Cô Enxalin này, - họ nói. - Arsi nhờ chúng tôi báo tin cho cô...Anh ấy bị ốm nặng, nằm ở nhà trọ. Anh ấy rất muốn nói chuyện với cô và nhắn cô theo chúng tôi tới chỗ anh ấy.

Enxalin sợ Arsi ốm nặng nên quay lại ngay theo mấy anh chàng quý tộc Xcôtlen tự nguyện dẫn đường cho cô.

Phillip và Rêginan đi hai bên cô. Họ nhìn nhau cười và nghĩ rằng chẳng có gì dễ hơn đánh lừa Enxalin.

Quay trở lại con đường vừa đi, Enxalin vội vàng rảo bước gần như chạy, Phillip và Rêginan phải sải chân bước để khỏi bị rớt lại phía sau.

Nhưng trong khi Enxalin đang vội như vậy, có một vật gì lăn dưới chân cô, một vật gì đó đã bị ném ở đằng trước và suýt làm cô vấp ngã.

"Cái gì lăn trước chân mình thế nhỉ, - Enxalin nghĩ thầm, - chắc là mình đá phải một hòn đá làm nó lăn xuống dốc." Cô đang sốt ruột đến bên Arsi, và không muốn dừng lại chỉ vì cái vật đang lăn phía trước, cô liền hất nó sang bên đường. Nhưng vật đó lăn trở lại ngay lập tức, rồi lại lăn trước Enxalin trên com đường giốc đứng. Những khi vật đó va phải hòn sỏi và nẩy lên, nó kêu lanh canh như một đồng tiền, và Enxalin thấy nó lấp lánh trong bóng tối.

"Đó không phải là một hòn đá thường. Mình ngờ rằng đó là một đồng bạc". Nghĩ vậy, nhưng cô đang vội đến gặp Arsi nên chẳng để mất thời gian cúi nhặt nó lên.

Song vật đó vẫn tiếp tục lăn trước mặt cô. Cô nghĩ: " Nếu mình cúi xuống nhặt đồng bạc đó lên chắc mình sẽ đi được nhanh hơn. Và nếu nó chẳng đáng giá gì thì mình sẽ vứt nó ra thật xa."

Cô liền cúi xuống nhặt đồng bạc lên. Đó là một đồng êquy lớn bằng bạc tỏa sáng lấp lánh trong bàn tay cô.

- Cô nhặt được vật gì trông sáng ngời dưới ánh trăng vậy? - Rêginan hỏi.

Cũng vừa lúc đó ba người đi tới căn nhà lớn, nơi ở trọ của những người nước ngoài tới Marxt'răng đánh cá. Một chiếc đèn lồng treo trước cửa ra vào rọi ánh sáng yếu ớt ra ngoài phố.

- Cô cho tôi xem vật cô nhặt được nào. - Phillip dừng lại trước ngọn đèn nói.

Enxalin giơ đồng tiền ra trước áng sáng đèn, song vừa mới liếc nhìn nó cô đã kêu lên:

- Đó là đồng êquy của cụ Arnơ, tôi nhận ra nó mà, đó là một đồng êquy trong số bạc của cụ Arnơ.

Rêginan ngắt lời cô:

- Cô nói gì vậy? Tại sao cô lại bảo đó là đồng êquy của cụ Arnơ?

- Tôi nhận ra đồng êquy đó mà - Enxalin nhắc lại. - Tôi thường thấy cụ Arnơ cầm những đồng êquy của cụ trong tay. Chắc chắn đó là đồng êquy của cụ Arnơ.

- Cô đừng kêu to như vậy. - Phillip nói. - Đấy thiên hạn không hiểu tại sao cô kêu đang chạy tới kia kìa.

Enxalin không nghe lời Phillip. Cô thấy cửa một căn nhà để ngỏ. Bên trong một đống lửa bập bùng giữa nhà. Nhiều người đàn ông đang ngồi quanh đống lửa chuyện trò bình thản.

Enxalin chạy tới họ, , tay giơ cao đồng êquy.

- Cac ông ơi, xin các ông nghe tôi nói, - cô kêu to, - giờ đây tôi biết rằng bọn người sát hại cụ Arnơ còn sống. Các ông nhìn xem, tôi vừa mới tìm được một đồng êquy của cụ Arnơ.

Tất cả mọi người quay lại nhìn cô. Cô nhận ra có cả bác hàng cá Tôraranh cùng ngồi với đám dân chài.

- Sao cô rối rít lên thế?- Tôraranh hỏi. - Làm sao cô phân biệt được đồng êquy với những đồng êquy khác?

- Tôi có thể nhận ra chính xác đồng êquy này với những đồng khác. Nó cũ kỹ, rất to, và có một vết khắc trên mép. Cụ Arnơ nói rằng nó có từ thời các triều vua Na Uy khi xưa. Khi cần tiêu tiền cụ Arnơ chẳng bao giờ chịu dùng đến nó.

- Nhưng cô phải nói cho chúng tôi biết cô đã lượm được đồng êquy này ở đâu chứ? - Một người đánh cá nói.

- Tôi nhìn thấy nó lăn ở ngoài phố ngay trước mắt tôi. Chắc một tên trong bọn sát nhân đã đánh rơi nó.

- Có lẽ cô nói đúng đấy. - Tôraranh nói, song đồng êquy này sẽ giúp được gì cho chúng ta? Chúng ta làm sao tìm ra được bọn sát nhân chỉ với mỗi một điều là cô biết được rằng chúng đã đi trên đường phố này?

Mọi người đều cho rằng Tôraranh nói phải và họ lại ngồi xuống quanh đống lửa.

- Enxalin, cô đi với chúng tôi về nhà chứ? - Tôraranh nói tiếp. - Con gái không nên lang thang ngoài phố vào giờ này.

Nghe Tôraranh nói thế, Enxalin quay người lại đưa mắt tìm mấy anh bạn cùng đi, song Rêginan và Phillip đã biến mất từ lúc nào không biết.
--- ------ ------ ------ -------

1 Một loại đồng tiền bằng bạc có giá trị cao, thông dụng ở nhiều nước Châu Âu trong thời Trung cổ.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
       
Có bài mới 21.04.2017, 16:25
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 29 Nữ
Bài viết: 16330
Được thanks: 4281 lần
Điểm: 9.07
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tập truyện ngắn] Chiếc xe của thần chết - Selma Lagerlöf - Điểm: 10
TRONG QUÁN RƯỢU THỊ SẲNH

1

Một buổi sáng đẹp trời bà chủ quán rượu tại tòa thị sảnh ở Maxtrăng vừa mở cửa để cọ rửa cầu thang và phòng ngoài thì thấy một cô gái nhỏ đang ngồi trên bậc cầu thang có vẻ chờ đợi. Cô mặc một chiếc áo thụng màu xám có thắt lưng ở ngang thân, mái tóc vàng không cuộn lên mà cũng không tết buông xõa hai bên má cô.

Khi cánh cửa mở ra, cô gái đứng dậy, bước xuống phòng ngoài. Bà chủ thấy cô đi như người trong mơ, mắt nhìn xuống hai cánh tay khép sát vào người. Cô gái lạ mặt tiến sát lại gần bà chủ quán. Cô càng lại gần, bà chủ quán càng ngạc nhiên vì dáng người tha thướt và chân tay thanh mảnh của cô. Tuy khuôn mặt cô rất xinh, nhưng có vẻ hốc hác và trong suốt như thủy tinh.

Tới bên bà chủ quán, cô hỏi liệu ở quán có việc gì mà cô có thể làm được chăng và cô xin bà nhận cô vào làm con ở.

Bà chủ nghĩ tới những người đàn ông thô lỗ tối tối thường đến đây uống rượu vang, uống bia và bà không khỏi bật cưi:

- Không, không, ở quán tôi không có việc gì phù hợp với một cô gái bé nhỏ như cô đâu.

Cô gái không ngước nhìn lên, đứng yên không cử động, nhưng lại cầu xin bà nhận cô vào làm người hầu trong quán. Cô không yêu cầu bà nuôi ăn hoặc trả tiền công, cô chỉ muốn có việc làm.

- Không, - bà chủ nhắc lại.- Dù cô là con gái tôi đi nữa tôi cũng vẫn sẽ từ chối. Theo ý tôi, cô xứng đáng với những việc làm tốt hơn là làm người hầu ở quán tôi.

Cô gái nhẹ nhàng bước trở lên cầu thang. Bà chủ quán đưa mắt nhìn theo. Bà thấy cô quá bé nhỏ, quá yếu ớt để có thể tự bảo vệ nên bà động lòng thương xót. Bà bèn gọi cô lại và nói:

- Một mình lang thang ngoài đường phố, có thể cô gặp nhiều nguy hiểm hơn là ở quán chúng tôi. Thôi, hôm nay cô ở lại đây, cô sẽ rửa bát đĩa, để rồi tôi xem có việc gì hợp với cô không.

Bà dẫn cô vào một căn phòng nhỏ xíu bố trí sau gian bán hàng. Căn phòng này không lớn hơn cái tủ là bao. Nó chẳng có cửa lùa, mà cũng chẳng có cửa sổ. Ánh sáng lọt vào qua một cái lỗ trổ trên bức tường của gian bán hàng.

- Hôm nay cô cứ ở đây, rửa tất cả những bát đĩa mà tôi sẽ đưa vào cho cô qua cái lỗ này, - bà chủ quán nói với cô gái. - Rồi tôi sẽ quyết định sau xem cô có thể giữ cô lại giúp việc cho tôi không.

Cô gái trẻ bước vào gian phòng hẹp. Những cử động của cô hoàn toàn không gây một tiếng động. "Thật chẳng khác nào một hồn ma lướt vào trong mồ."- bà chủ quán nghĩ bụng.

Thế là cô ở đó suốt ngày, không nói chuyện với ai, mà cũng chẳng hề ghé mặt vào lỗ tường để nhìn những người ra vào trong quán rượu. Cô cũng không động đến thức ăn người ta đem đến cho cô.

Chẳng ai nghe tiếng bát đĩa va chạm vào nhau, nhưng mỗi khi bà chủ quán thò tay qua lỗ tường, cô gái lạ lại trao cho bà những chồng bát đĩa đã rửa sạch bóng, không một vết bẩn.



2


Vào một ngày không có việc làm cá ngoài bến tầu, Enxalin ở nhà một mình, ngồi kéo sợi. Một ngọn lửa ấm áp cháy trong lò sưởi, chiếu khá sáng gian nhà. Đang làm việc, Enxalin cảm thấy có một làn gió nhẹ thoáng trên trán cô tựa như một làn hơi lạnh. Cô ngước mắt lên và trông thấy người chị nuôi đã chết đứng ngay trước mặt.

Enxalin đưa tay dừng guồng sợi và ngồi lặng người, mắt dán vào người chị nuôi. Thoạt đầu cô thấy sờ sợ. Nhưng rồi cô nghĩ: "Mình không được phép sợ người chị nuôi của mình. Dù chị ấy còn sống hay đã chết, mình cũng rất sung sướng gặp lại chị."

- Chị thân yêu ơi, - cô nói với hồn ma, - chị muốn gì em thế?

Người kia trả lời, giọng yếu ớt không có âm sắc:

- Em Enxalin, chị xin vào làm đầy tớ tại một quán rượu. Bà chủ đã để đứng cả ngày rửa bát đĩa. Tối nay chị thấy mệt quá, không thể làm được nữa, chị đến hỏi em xem có vui lòng đến giúp chị không?

Nghe những tiếng nói này, Enxalin cảm thấy có một bức màn đang trùm lấy đầu óc cô. Cô không thể nghĩ được gì nữa, không thấy ngạc nhiên mà cũng không thấy sợ hãi. Cô chỉ cảm thấy vui sướng được gặp lại chji nuôi. Cô đáp:

- Được chứ, chị thân yêu. Em sẽ đến giúp chị ngay đây.

Hồn ma đi ra cửa và Enxalin theo sau. Nhưng khi họ sắp bước qua ngưỡng cửa, người chị nuôi nói với Enxalin:

Em hãy mặc áo khoác vào, bên ngoài đang có bão đấy. Hồn ma nói những câu này rõ hơn những câu trước.

Enxalin với chiếc áo treo trên tường xuống và khoác vào người. Cô nghĩ: " Chị ấy vẫn yêu thương mình. Chị ấy không muốn mình gặp phải điều không hay. Mình rất sung sướng được theo chị đến bất cứ nơi nào chị muốn."

Và đi theo hồn ma, Enxalin rời xa dần căn lều của Tôraranh cất trên một dốc đá, rồi qua nhiều phố, đi xuống phía bến cảng và chợ.

Hồn ma luôn luôn đi trước Enxalin vài bước. Gió nổi dữ dội, luồn ào ào vào những phố nhỏ. Enxalin nhận thấy mỗi khi gió thổi mạnh sắp ép cô vào tường, hồn ma lại cố sức lấy thân hình mỏng dính của mình chắn gió cho cô.

Cuối cùng họ cũng tới được Tòa thị sảnh. Hồn ma bước xuống cầu thang hầm rượu, nơi đặt quán rượu. Hồn ma ra hiệu cho Enxalin đi theo mình. Họ đang bước xuống bậc thang thì bỗng một cơn gió thổi tắt ngọn đèn treo ở phòng ngoài. Bóng tối bao phủ lấy họ. Enxalin không biết đặt chân vào đâu nữa và hồn ma phải cầm lấy tay cô dắt đi. Khi bàn tay hồn ma chạm vào cô lạnh ngắt, Enxalin rùng mình và run lên sợ hãi. Hồn ma vội rụt tay lại và lót tay mình bằng vạt áo choàng của Enxalin rồi mới lại cầm tay cô để dẫn đi. Song Enxalin vẫn cảm thấy cái lạnh thấu xương qua làn áo lông có lượt vải lót.

Hồn ma dẫn Enxalin dọc theo một hành lang hẹp, rồi mở cửa đưa Enxalin vào một gian phòng nhỏ xíu tối om, chỉ mờ mờ sáng nhờ cái lỗ nhỏ trổ trên tường. Enxalin thấy mình ở trong một nơi mà bà chủ quán bắt chị cô phải đứng rửa bát đĩa phục vụ khách. Trong bóng tối, Enxalin thấy lờ mờ một chậu nước đầy đặt trên một chiếc ghế đẩu, và trên lỗ tường có rất nhiều cốc tách, bát đĩa bẩn.

- Em có thể làm việc giúp chị tối nay không? Enxalin. - Hồn ma hỏi.

- Có chứ, chị thân yêu. Em sẽ làm tất cả những gì chị muốn.

Và cô cởi ngay áo choàng ra, xắn tay áo lên và bắt đầu rửa bát.

- Em cứ bình tĩnh và yên lặng tuyệt đối, Enxalin nhé, để bà chủ khỏi biết có người đến giúp chị.

- Vâng, em sẽ không động đậy, không nói năng gì. - Enxalin trả lời.

- Vậy chị xin vĩnh biệt em, Enxalin. - Hồn ma nói, - nhưng chị còn phải dặn em một điều: chị xin em sau này đừng có quá giận chị nhe.

- Tại sao chị lại nói vĩnh biệt, - Enxalin nói, - tối nào em cũng sẽ đến giúp chị cơ mà.

- Không, chị chỉ cần em tối nay thôi, chị tin rằng tối nay em sẽ giúp chị nhiều việc quan trọng đến nỗi công việc của chị nhờ thế mà kết thúc tốt đẹp.

Vừa nói chuyện với chị, Enxalin vừa cúi đầu làm việc.

Một lát yên lặng, rồi cô gái cảm thấy một làn gió nhẹ lướt qua trán giống như khi hồn ma đến với cô ở nhà Tôraranh. Cô ngẩng lên và thấy chỉ còn lại một mình. Cô hiểu ý nghĩa của làn gió nhẹ lướt trên trán cô và nghĩ thầm: "Người chị nuôi đã chết của mình đã hôn lên trán mình trước khi ra đi đấy."

Thoạt tiên Enxalin rửa cho xong mấy chồng bát đĩa, cô tráng lại tất cả rồi lau khô. Sau đó cô quay ra xem có bát đĩa nào bẩn mới đặt lỗ tường chưa, vì không thấy gì ở đó, cô nhòm qua lỗ vào gian hàng.

Vào giờ này theo lệ thường thì chẳng còn ai tới quán rượu nữa. Bà chủ quán không còn đứng sau quầy và cũng chẳng còn người đầy tớ nào làm việc trong phòng. Duy chỉ còn ba người đàn ông ngồi ở đầu một chiếc bàn dài. Họ là khách, song ở quán hàng này họ hoàn toàn tự nhiên như ở nhà mình: một người trong bọn uống cạn vại rượu, rồi đi đến bên những thùng bia xếp chồng lên nhau cạnh quầy bán, tự rót lấy và tiếp tục uống.

Đứng sau lỗ tường, Enxalin dường như vừa từ một thế giới khác trở về. Cô vẫn nghĩ đến người chị nuôi nên chẳng hiểu rõ những điều đang diễn ra trước mắt cô.

Trong một lúc lâu, cô không nhận ra ba người đàn ông đang ngồi bên bàn kia là những người rất quen biết và thân thiết của cô. Đó chẳng phải khác ngoài Arsi và hai bạn của anh ta là Phillip và Rêginan.

Từ mấy ngày nay Arsi không đến thăm Enxalin, vì thế cô cảm thấy sung sướng khi trông thấy anh ta. Cô định gọi anh để nói rằng cô đang ở rất gần anh, nhưng cô chợt nghĩ ra là anh ta không đến thăm cô nữa, điều đó thật lạ lùng và thế là cô im lặng.

"Có lẽ bây giờ anh ta yêu một người khác chăng? Có lẽ lúc này anh ta đang nghĩ đến người đó chăng?" - Cô nghĩ vậy vì thấy Arsi ngồi cách xa các bạn anh một chút, mắt nhìn đăm đăm, không uống rượu và cũng không tham gia chuyện trò với họ. Ngay cả khi Rêginan và Phillip hỏi anh, anh cũng xhẳng buồn trả lời nữa.

Enxalin nghe thấy ha người kia đang cố làm cho anh vui vẻ lại. Họ hỏi anh tại sao không uống, họ khuyên anh nên đến thăm Enxalin, chuyện trò với cô để phấn chấn lại.

- Các cậu không phải lo lắng cho mình như vậy. - Arsi trả lời. - Mình đang nghĩ tới một cô bé khác, lúc nào nó cũng ở trước mặt mình, lúc nào mình cũng nghe thấy tiếng nó văng vẳng bên tai.

Và Enxalin thấy Arsi đang dán mắt nhìn vào một cái cột đỡ vòm hầm. Cô cũng nhìn theo, thấy chị nuôi cô đang đứng dựa cột, nhìn thẳng vào Arsi, điều mà trước đây cô không nhận thấy. Cô chị đứng không nhúc nhích trong bộ đồ xám nên rất khó phân biệt cô với cây cột sau lưng cô.

Enxalin lẳng lặng nhìn căn phòng. Người chị nuôi cô ngước mắt nhìn Arsi, khác hẳn lúc ở bên Enxalin: cô ta luôn luôn hạ mi mắt xuống. Nhưng trên mặt cô ta, đôi mắt là đáng sợ nhất. Enxalin thấy chúng bị chọc thủng, không có ánh mắt, và áng sáng không phản chiếu trên con ngươi.

Một lúc sau Arsi lại rên rỉ: " Lúc nào mình cũng nhìn thấy con bé, nó đi theo mình khắp mọi nơi."

Anh ta ngồi đối diện với cây cột nơi hồn ma đang dựa lưng và anh ta nhìn thẳng vào đó, nhưng Enxalin biết rằng anh ta không nhìn thấy hồn ma, không nói đến hồn ma mà nói đến một người nào đó cứ luôn ám ảnh anh ta.

Từ sau lỗ tường, Enxalin theo dõi mọi điều đang xẩy ra. Cô nghĩ thầm rằng cô rất muốn biết ai là người mà Arsi lúc nào cũng nghĩ tới. Đột nhiên cô thấy hồn ma đến ngồi vào chiếc ghế dài sát bên Arsi và thì thầm vào tai anh ta.

Nhưng Arsi không biết rằng hồn ma đang ở sát bên anh đến thế và đang nói thầm vào tai anh. Anh ta chỉ nhận biết sự có mặt của hồn ma vì thấy mình mỗi lúc một hoảng sợ hơn. Sau khi hồn ma tới ngồi bên cạnh và thì thầm vào tai Arsi được một lúc, Enxalin thấy Arsiđưa hai tay lên đầu và khóc: " Ôi, tại sao mình lại tìm thấy cô gái ấy?- Anh ta nói. Mình không có điều gì phải ân hận ngoài việc mình đã không để cho cô ta được sống khi cô ta van xin mình."

Hai người kia ngừng uống, đưa mắt sợ hãi nhìn Arsi, người đang bị nỗi ân hận dày vò, nên không còn thiết gì đến khí phách nam nhi cả. Họ sững sờ một lúc rồi một người đi đến quầy rượu, lấy một cốc vại và rót đầy vang đỏ. Anh ta đi đến bên Arsi, vỗ vao vai Arsi và nói: " Uống đi, người anh em. Những đồng equy của cụ Arnơ vẫn chưa hết đâu. Chừng nào cúng ta còn có tiền uống rượu như thế này thì việc gì phải âu sầu phiền muộn."

Nhưng đúng vào lúc anh ta nói "Uống đi, người anh em. Những đồng equy của cụ Arnơ vẫn chưa hết đâu..." thì Enxalin thấy hồn ma đứng dậy, ra khỏi ghế băng và biến mất.



3


Enxalin bước ra khỏi gian nhà nhỏ nơi cô rửa bát đĩa của quán rượu rồi khép nhẹ cánh cửa sau lưng. Cô dừng lại trong hành lang chật hẹp kế bên, dựa lưng vào tường và đứng lặng ở đó gần một giờ đồng hồ. Lúc đó cô suy nghĩ: " Mình không thể phản anh ấy được. Có thể anh ấy đã phạm mội tội ác, song mình yêu anh ấy vô cùng. Mình không thể để anh ấy phải chịu xa hình 1. Mình không có gan nhìn thấy anh ấy bị đốt chân tay."

Cơn bão lớn nổi lên từ sáng càng về chiều càng dữ dội. Náu mình trong bóng tối, Enxalin nghe thấy tiếng gió gầm thét lồng lộn. "Đấy là cơn bão đầu tiên của mùa xuân, - cô nghĩ. - Nó kéo đến với tất cả sức mạnh của nó để phá băng, giải thoát cho mặt biển. Vài ngày nữa biển sẽ thông, và Arsi sẽ ra đi không bao giờ trở lại đây nữa. Anh ấy sẽ không gây tội ác trên đất nước này nữa. Vậy thì bắt giam và trừng phạt anh ấy phỏng có ích gì? Cả người sống lẫn người chết chả ai được lợi về việc đó cả.".

Enxalin khoác áo choàng lên người định bụng về nhà và im lặng làm việc không tiết lộ bí mật cho ai biết cả.

Nhưng chưa cất chân bước đi, cô đã bỏ ngay ý định đó.

Cô vẫn đứng yên, lắng nghe tiếng bão giận dữ, và cô nghĩ rằng mùa xuân sắp đến, tuyết sẽ tan đi và màu xanh của cây cối sẽ phủ khắp mặt đất.

"Lậy Chúa thương chúng con! Mùa xuân sé ra sao đối với mình, - cô tự nhủ. - Sau mùa đông lạnh lẽo này sẽ chẳng còn niềm vui nào, hạnh phúc nào đến với mình nữa. Cách đây vừa đúng một năm, mình thật vui sướng biết bao khi thấy mùa đông qua đi và mùa xuân đang đến. Mình còn nhớ có một buổi chiều trời đẹp đến nỗi mình không thể ngồi ở nhà được. Thế là mình nắm tay người chị nuôi của mình, và hai chị em đi dạo, tìm hái những cành lộc xanh mang về trang trí trên lò sưởi."

Và Enxalin như sống lại buổi dạo chơi của họ trên một nẻo đường xanh rợp. Cô và người chị nuôi thấy bên đường một cây phong non đã bị đẵn. Trông vết đẵn có thể thấy rằng cây mới bị đốn cách đây vài ngày. Hai cô gái nhận ra rằng tuy thế cái cây tội nghiệp đã bắt đầu xanh tươi trở lại và lá đang nhú ra từ những mầm non.

Người chị nuôi của Enxalin dừng chân lại, cúi xuống cây phong và nói: "Ôi, cái cây đáng thưng làm sao, mày có tội gì mà đến nỗi bị chặt rồi mày vẫn không thể chết được? Tại sao mày lại phải đâm chồi nẩy lộc, tựa như mày còn sống?

Enxalin cười chị và trả lời: " Cái cây xanh tốt đẹp đẽ trở lại thế này là kđể cho kẻ đã hạ nó phải hiểu rằng việc hắn làm là độc ác, và phải hối hận.

Song, chị nuôi cô không cười, mắt rưng rưng lệ và nói:

- Thật là một tội ác khủng khiếp khi chặt một cái cây đúng vào lúc nó đang đâm chồi mọc lá, đúng vào lúc nó đang đầy sức sống nên không thể chết được. Thật khủng khiếp khi một người phải chết khi không được yên nghỉ trong nấm mồ của mình. Những người đã chết thì không thể mong nhớ điều gì tốt đẹp hơn thế nữa. Họ không thể có tình yêu, có hạnh phúc. Họ chỉ có thể ao ước được ngủ yên lành.

- Nghe chị nói cây phong không chết nổi vì nó nghĩ đến kẻ hại nó, mà em phát khóc lên được, - cô nói với chị. - Đối với một người đã bị cướp mất cuộc sống, còn có số phận nào ác nghiệt hơn là không được yên nghỉ vì còn phải săn đuổi kẻ đã giết mình. Những người đã chết thì còn gì mong ước hơn là được nằm ngủ yên lành.

Nhớ lại cuộc đối thoại ấy, Enxalin bật khóc và vặn vẹo đôi tay. "Chị mình sẽ không được yên nghỉ dưới mồ nếu như mình không phản bội người mình yêu. Nếu như mình không giúp chị ấy, chị ấy sẽ phải lang thang mãi mãi trên mặt đất này. Ôi người chị nuôi đáng thương của em, chị còn điều gì ao ước hơn là được yên nghỉ trong mộ, và giấc ngủ này mình chỉ có thể đem lại cho chị bằng cách nộp người mình yêu cho xa hình.



4


Arsi rời căn hầm, bước vào cái hành lang nhỏ hẹp. Ngọn đèn treo trên trần đã được thắp lại. Dưới ánh sáng của nó, Arsi nhìn thấy một cô gái đứng tựa lưng vào tường.

Trông cô gái tái nhợt, bất động, Arsi phát hoảng và nghĩ: " Cuối cùng thì mình đã nhìn thấy tận mắt hồn ma theo đuổi mình hằng ngày".

Khi Arsi đi ngang qua Enxalin, anh ta vuốt tay cô gái xem có phải thật là hồn ma đang đứng trước mặt anh ta không. Bàn tay ấy lạnh ngắt, khó có thể biết được đó là tay chết hay là tay người sống.

Nhưng khi tay Arsi chạm vào tay mình, Enxalin rụt ngay tay lại, và thế là Arsi nhận ra cô. Anh ta tưởng rằng cô đến đây là vì anh, và anh thấy khoái chí được gặp lại cô. Đồng thời một ý nghĩ lướt qua trong óc anh. "Mình biết phải làm gì để hồn ma hết oán hờn mình và không theo đuổi mình nữa rồi."

Anh ta cầm lấy bàn tay Enxalin đưa lên môi hôn. "Chúa ban phúc lành cho em vì em đã đến với anh đêm nay, Enxalin ạ". - Anh ta nói.

Nhưng trái tim Enxalin vẫn đau đớn. Nước mẳ làm cô không cất nổi lời để nói với Arsi rằng không phải cô đến đây để tìm gặp anh.

Arsi yên lặng hồi lâu, tay vẫn nắm chặt tay Enxalin, và anh ta đứng càng lâu trước mặt cô gái, gương mặt anh ta càng sáng bừng lên, càng đẹp thêm.

- Enxalin, - cuối cùng anh ta nói một cách rất trịnh trọng, - mấy ngày qua anh không thể đến thăm em vì có những ý nghĩ đen tối cứ ám ảnh anh không ngớt làm anh tưởng như mình sắp mất trí. Nhưng tối nay anh thấy khỏe hơn, cái hình ảnh vẫn hành hạ anh không xuất hiện nữa. Khi nhận ra em ở đây, trái tim anh đã bảo cho anh biết anh phải làm gì để thoát vĩnh viễn khỏi những nỗi dày vò.

Anh ta cúi xuống để nhìn vào mắt Enxalin, song thấy cô ta vẫn nhìn xuống, anh bèn nói tiếp:

- Vì mấy ngày nay anh không đến thăm em nên em giận phải không Enxalin? Nhưng anh không thể đến được, vì mỗi khi anh nhìn thấy em, anh lại nghĩ tới nỗi phiền muộn của mình. Ở bên em, anh càng nghĩ nhiều tới một cô gái mà anh đã đối xử không tốt. Anh đã đối xử không tốt với rất nhiều người, Enxalin ạ. Song lương tâm anh chỉ cắn rứt về việc đã đối xử xấu với cô ấy.

Thấy Enxalin vẫn yên lặng, Arsi cầm lấy đôi tay cô đưa lên môi hôn:

- Enxalin, em hãy nghe điều mà trái tim anh đã nói với anh khi nhìn thấy em đứng bên ngoài đợi anh. Trái tim anh nói rằng anh đã làm hại một cô gái, vậy anh phải chuộc tội với cô gái ấy bằng cách đền bù cho một cô gái khác. Anh phải lấy cô gái này làm vợ, và đối xử tử tế sao cho cô không bao giờ phải buồn phiền. Anh phải trung thành với cô sao cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời anh, anh vẫn yêu cô nồng thắm như những ngày mới cưới.

Enxalin vẫn đứng yên, không nhúc nhích. Arsi lại đưa tay nâng cằm cô lên:

- Anh muốn biết em có nghe anh nói đấy không, Enxalin? - Arsi nói. Và anh thấy Enxalin đang thổn thức, nước mắt đầm đìa trên má.

- Tại sao em khóc, Enxalin? - Arsi hỏi.

Enxalin trả lời:

- Em khóc vì lòng em tràn ngập tình thương yêu anh, Arsi ạ.

- Em hãy nghe bão đang gầm thét ngoài kia. - Anh ta nói. - Nó báo hiệu rằng đường biển sắp thông, tầu bè sắp có thể ra khơi đi về tổ quốc anh. Em hãy nói đi, Enxalin, em có bằng lòng theo anh về bên đó không, để bên em, anh có thể chuộc lỗi với một cô gái khác?

Arsi thì thầm tả cho Enxalin nghe cuộc sống tuyệt diệu đang chờ đón cô. Enxalin nghĩ: "Trời ơi, giá như mình không biết tội ác của anh ấy, để theo anh, và sống hạnh phúc bên anh."

Arsi càng áp mình vào người cô. Và khi Enxalin đưa mắt nhìn lên, cô thấy Arsi đang cúi xuống sắp hôn lên trán cô. Đột nhiên cô nghĩ tới hồn ma mới khi nãy còn ở bên cô và hôn cô. Cô vùng ra khỏi tay của Arsi và kêu lên:

- Không, Arsi, em sẽ không theo anh đâu.

- Có chứ, Enxalin, Arsi đáp. - Em phải đi với anh, nếu không đời anh sẽ chẳng còn gì nữa.

Và anh ta lại thì thầm với cô những lời còn ngọt ngào hơn. Và cô lại nghĩ: " Đối với Chúa cũng như đối với mọi người, để cho anh ấy có thể chuộc tội và trở thành người lương thiện chẳng hay hơn sao? Trừng phạt anh ấy, giết anh ấy thì có ích gì cho ai đâu?

Trong khi Enxalin nghĩ vậy, có vài người đi qua để vào quán rượu. Arsi nhận thấy họ nhìn anh và Enxalin một cách tò mò, anh bèn nói với cô:

- Nào, Enxalin, anh sẽ đưa em về nhà. Không nên để ai biết em đã đến tìm anh trong quán rượu.

Nghe nói thế, Enxalin bỗng đứng thẳng dậy, tựa như cô vừa chợt nhớ ra rằng cô có việc khác cần làm hơn là đứng nghe Arsi nói. Nhưng vừa nghĩ tới việc phải tố giác Arsi, trái tim cô đau nhói, nó nói với cô rằng nếu cô trao Arsi cho đao phủ thì khác nào cô đập nát nó ra.

Arsi choàng chặt cô gái trong chiếc áo khoác của anh và đưa cô ra đường, đi với cô tới tận nhà Tôraranh. Enxalin nhận thấy mỗi lần gió quất quá mạnh, Arsi lại chắn gió cho cô. Suốt dọc đường, Enxalin tự nhủ: "Chị nuôi khốn khổ của mình không biết rằng muốn sửa lỗi và trở thành người tốt."

Còn Arsi thì vẫn không ngớt thì thầm với Enxalin những lời ngọt ngào. Càng nghe Arsi nói, Enxalin càng vững dạ. Cô nghĩ: "Chắc chị mình gọi mình đến chỉ để cho mình nghe thấy những lời này của Arsi. Chị ấy yêu thương mình biết bao, chị ấy không muốn mình bị đau khổ, mà chỉ muốn cho mình được sung sướng".

Đến khi hai người dừng lại trước cửa nhà Tôraranh, Arsi còn hỏi lại một lần nữa rằng cô có muốn theo anh ta về nước không, và Enxalin trả lời rằng với sự giúp đỡ của Chúa, cô sẽ đi với anh.



LINH HỒN ĐAU KHỔ


Ngày hôm sau bão tan. Trời dịu lại song tình hình băng đóng vẫn không thay đổi, mặt biển vẫn bị kẹt như trước.

Vừa thức dậy lúc sáng, Enxalin đã nghĩ: "Điều chắc chắn là để cho kẻ có tội biết ăn năn và chịu sống theo ý Chúa thì tốt hơn là để kẻ ấy bị trừng phạt và bị xử tử".

Sau đó, Enxalin nhận được chiếc xuyến vàng to do Arsi nhờ người mang tới.

Enxalin sung sướng thấy Arsi nghĩ tới chuyện làm cô vui lòng. Cô cảm ơn người liên lạc và nhận món quà. Nhưng khi người ấy đi xa, cô xhợt nghĩ ra rằng Arsi đã mua cho cô chiếc xuyến này bằng những đồng tiền êquy của cụ Arnơ, và thế là cô thấy không còn đủ can đảm nhìn vào món đồ nữ trang này nữa. Cô giật nó ra khỏi cổ tay và ném nó ra a.

"Cuộc đời mình sẽ ra sao nếu như lúc nào mình cũng phải nghĩ rằng mình sống bằng những đồng êquy của cụ Arnơ? Lúc đưa lên miệng bất kỳ miếng ăn nào, chẳng nhẽ mình không nghĩ tới những đồng tiền ăn cướp kia? Lúc mặc một chiếc áo mới chẳng nhẽ mình lại không nghe thấy tiếng thì thào bên tai rằng nó được sắm bằng của bất lương sao? Rõ ràng mình không thể đi theo Arsi và chung sống với anh ấy được. Mình sẽ nói với anh ấy như thế khi anh ất tới thăm mình."

Buổi chiều, Arsi đến nhà Enxalin. Trông anh ta thật tươi tỉnh. Những ý nghĩ u sầu không còn ám ảnh anh ta nữa, và anh ta tưởng nguyên nhận của sự thay đổi dễ chịu này là việc anh ta hứa sẽ đem hạnh phúc đến cho một cô gái để chuộc tội đối với một cô gái khác.

Nhìn thấy anh cà nghe anh nói, Enxalin không dám thú nhận với anh nỗi buồn khổ của cô và việc cô định chia tay với anh. Ngồi bên Arsi, cô quên hết mọi nỗi ưu tư đã dằn vặt cô.

Hôm sau là ngày chủ nhật, Enxalin đến nhà thờ. Cô dự cả lễ buổi sáng lẫn lễ buổi chiều ở đó.

Trong buổi lễ sáng, đang chăm chú nghe mục sư thuyết giáo, bỗng nhiên cô nghe có tiếng ai thổn thức ngay bên cạnh.

Lúc đầu cô tưởng đó là tiếng khóc của người ngồi cùng ghế dài với cô, nhưng nhìn sang phải, rồi sang trái, cô chỉ thấy toàn những bộ mặt trầm tĩnh, đầy vẻ trang trọng.

Tuy vậy cô vẫn nghe rõ tiếng nức nở. Người khóc hình như ngồi sát cô, gần đến nỗi Enxalin tưởng chừng cứ giơ tay là cô có thể chạm phải.

Nghe tiếng khóc than, cô thấy chưa bao giờ có ai biểu lộ nỗi buồn của mình một cách não nuột đến vậy.

"Ai mà đau đớn thảm thiết vậy? Nỗi đau khổ ấy tới mức nào mà làm rơi những giọt nước mắt cay đắng đến thế?" Enxalin tự hỏi.

Cô quay người lại rồi vươn mình nhìn qua ghế bên cạnh cho rõ hơn. Song ở đó cũng vậy, mọi người đều im lặng, chẳng có khuôn mặt nào đầy nước mắt.

Lúc ấy, Enxalin hiểu ra rằng mọi sự tìm kiếm thắc mắc của cô chỉ là vô ích. Tại sao cô không nhận ra ngay từ đầu ai là người khóc than bên cạnh cô nhỉ?

- Chị thân yêu ơi, - cô thì thầm, - tại sao chị không cho em được nhìn thấy chị như hôm kia? Chị hẳn biết rõ rằng em sẽ làm tất cả mọi việc để lau khô nước mắt cho chị.

Cô chờ đợi tiếng trả lời, song chẳng nghe thấy gì cả. Cô chỉ nghe thấy tiếng nức nở của hồn ma ở sát bên cô.

Enxalin cố gắng nghe lời giảng của mục sư, song cô không hiểu ông nói gì. Cô nóng ruột và thì thầm: "Nếu như có một người có đủ lý do để than khóc hơn ai hết thì người đó chính là mình. Giá như chị nuôi mình không báo cho mình biết ai là những kẻ sát hại chị thì mình đã có thể ngồi đây với lòng vui sướng vô hạn."

Và càng nghe tiếng thổn thức của hồn ma, Enxalin càng thấy bất bình. Cuối cùng cô nghĩ: "Làm sao người chị mình đã chết lại có thể buộc mình tố cáo người mình yêu được. Nếu như chị ấy còn sống, chắc chị ấy sẽ không bao giờ chấp nhận một hành động như vậy cả".

Mặc dù phải ngồi lỳ trên ghế băng, Enxalin vẫn không thể ngồi yên. Cô nghiêng người, hết nhìn phía trước lại nhìn phía sau, vặn vẹo đôi tay. "Nỗi khổ tâm này sẽ đeo đẳng mình suốt cả ngày, - cô nghĩ như vậy và mỗi lúc một thêm lo lắng. - Biết đâu rồi đây nó sẽ theo mình suốt cả cuộc đời."

Thế nhưng những tiếng nức nở bên cô lại càng ảo não hơn. Và sau cùng, Enxalin không thể nén lòng được nữa, và cô khóc theo.

"Chị mình khóc lóc thảm thiết như vậy hẳn phải gánh chịu một nỗi đau khổ ghê gớm lắm, - cô nghĩ, - một nỗi đau khổ mà không một người nào có thể hình dung được."

Sau buổi lễ, Enxalinbước ra khỏi nhà thờ, và cô không nghe thấy tiếng khóc nữa. Nhưng trên đường về nhà cô khóc vì nghĩ đến chị nuôi không được yên nghỉ dưới nấm mồ.

Đến giờ lễ chiều, Enxalin lại đi tới nhà thờ, chỉ cốt xem chị cô có cònngồi khóc ở đó nữa hay không.

Cô nghe thấy tiếng hồn ma nức nở ngay từ lúc mới tới cửa và trái tim cô đau thắt lại. Cô thấy kiệt sức. Mối lo lắng lớn nhất của cô lúc này là phải cố giúp đỡ hồn ma đang lang thang không lúc nào được nghỉ ngơi trên trần thế.

Lúc cô ở nhà thờ ra về, trời vẫn còn sáng nên cô nhìn thấy trong số những người đi trước cô có người để lại trên mặt tuyết những dấu chân đẫm máu. Cô tự hỏi: " Ai mà lại nghèo đến nỗi phải đi chân đất, để vết máutrên mặt tuyết vậy nhỉ?"

Tất cả những người đi đằng trước đều có vẻ phong lưu, họ mặc quần áo ấm và chân mang giày dép. Tuy nhiên những vết chân dính máu này vẫn còn mới nguyên. Enxalin nghĩ đó là vết chân của một người đi lẫn giữa đám đông.

"Đó là một người đã bị xây xát vì đã phải đi một chặng đường quá dài. Cầu Chúa che chở cho người ấy sớm tìm được chỗ trú chân để nghỉ ngơi."

Enxalin rất muốn biết ai là người đã phải đi chặng đường vất vả cực nhọc đến thế. Cô liền đi theo những dấu chân ấy, mặc dù làm như thế cô phải tách khỏi con đường về nhà.

Chợt cô nhận ra rằng tất cả những người đi lễ về đều đã đi theo một hướng khác, chỉ còn một mình cô đi trên lối đi này. Song những dấu chân đẫm máu vẫn tiếp tục in trên tuyết.

"Đúng là chị nuôi mình đang đi đằng trước mình đó." - Enxalin nói, đồng thời cũng biết rằng mình vẫn luôn luôn tin như vậy.

"Trời ơi! Chị đáng thương của em, em cứ ngỡ rằng chị chỉ lướt nhẹ trên mặt đất, chân không chạm mặt đường. Thật ra chẳng một người sống sót nào có thể hiểu nổi con đường chị phải đi là nhọc nhằn biết chừng nào".

Nước mắt tuôn rơi lã chã, Enxalin thở dài ngẫm nghĩ: "Ôi! Chắc là chị ấy không được yên nghỉ dưới mồ. Thật đáng giận cho mình đã bắt chị cứ phải lang thang trên trần gian đến nỗi chân bật máu".

Cô kêu lên: "Hãy dừng lại đã chị ơi, dừng lại nghe em nói đã".

Song càng gọi cô thấy những vết chân đẫm máu càng in nhanh hơn trên mặt đất, dường như hồn ma đang bước gấp. "Chị ấy chạy trốn mình, chị ấy không trông mong mình giúp đỡ chút nào". Enxalin nghĩ.

Những dấu máu làm cô phát điên phát dại. Cô kêu lên: "Chị thân yêu ơi, em sẽ làm tất cả những gì chị muốn, để chị có thể yên nghỉ."

Enxalin vừa nói xong thì một người đàn bà cao lớn nãy giờ vẫn đi theo cô bước tới đặt tay lên cánh tay cô.

- Cô là ai mà vừa chạy vừa khóc vậy? - Bà ta hỏi. - Trông cô giống cô gái nhỏ hôm thứ sáu vừa rồi đến gặp tôi xin việc, rồi sau lại biến mất. Có phải chính là cô đó chăng?

- Không, không phải cháu đâu, Enxalin nói. - Nhưng nếu bà là bà chủ quán rượu ở Tòa Thị sảnh thì cháu biết người mà bà vừa nói là ai rồi.

- Vậy cô hãy nói cho tôi biết tại sao cô ấy đã ra đi không trở lại nữa? Người đàn bà hỏi.

Enxalin trả lời:

- Cô ấy ra đi vì cô ấy không muốn nghe câu chuyện giữa những kẻ bất lương đến quán rượu của bà.

- Có rất nhiều chàng trai ngang tàng thường lui tới quán rượu của tôi, song không có kẻ bất lương nào ở đó cả.- bà chủ quán phản đối.

- Thế mà cô gái đó đã trông thấy ba người đàn ông ngồi trong quán rượu nói chuyện với nhau, - Enxalin nói. - Một người trong bọn đã nói: "Uống đi cậu, những đồng êquy của cụ Arnơ vẫn chưa hết đâu."

Nói xong câu này, Enxalin nghĩ: "Tiết lộ điều mình đã nghe thấy, thế là mình đã cứu được chị nuôi của mình rồi. Bây giờ thì cầu Chúa làm cho bà chủ quán đừng tin mình để cho mình khỏi phạm tội gì cả."

Nhưng khi nhìn thấy bà lộ vẻ tin tưởng, cô lại thấy sợ hãi và muốn bỏ trốn.

Song cô chưa kịp cất chân thì bà chủ quán đã giơ bàn tay chắc nịch giữa chặt cô lại.

- Này cô bé, bà nói. - Nếu cô đã nghe những lời nói ấy tại quán của tôi thì cô không có lý do gì bỏ chạy cả. Trái lại cô phải theo tôi tới gặp những người có quyền lực đang muốn bắt gĩư bọn sát nhân để trừng trị.



ARSI CHẠY TRỐN


Enxalin bước vào gian phòng thấp, mình bận chiếc áo choàng dài tiếng về phía bàn Arsi đang ngồi uống rượu với các bạn. Có nhiều khách hàng đang ngồi quanh mấy chiếc bàn đặt trong quán hàng, nhưng cô không chú ý đến ánh mắt ngạc nhiên nhìn theo cô khi cô đến ngồi bên người yêu, Cô chỉ quan tâm đến một điều duy nhất: Arsi chỉ còn được tự do trong vài khoảnh khắc ngắn ngủi nữa thôi, và trong vài khoảnh khắc cuối cùng này cô muốn được ở bên anh.

Thấy Enxalin đến ngồi bên, Arsi bèn đứng dậy đưa cô sang ngồi ở chiếc bàn cuối phòng, lấp sau một cây cột. Enxalin nhận thấy Arsi có ý không hài lòng về việc cô đến tìm anh ở quán rượu, nơi mà thông thường một thiếu nữ không nên có mặt.

- Em chỉ nói chuyện với anh chốc lát thôi, Arsi ạ, - Enxalin nói.- Em muốn anh biết rằng em không thể theo anh về quê hương anh được.

Nghe Enxalin nói vậy, Arsi thấy sợ hãi, vì anh lo rằng nêu anh mất Enxalin, những ỹ nghĩ u tối sẽ trở lại ám ảnh anh.

- Tại sao em lại không muốn theo anh nữa, - Enxalin? Arsi hỏi.

Enxalin ngồi mặt tái xanh như xác chết. Tâm trí cô rối bời đến nỗi cô hầu như không biết cô nên trả lời thế nào.

- Đi theo một anh lính thì có hay ho gì, - cô nói, - ai mà biết được những người như anh ta có giữ lời hứa, có giữ lòng tin hay không?

Arsi chưa kịp cãi lại thì một người thủy thủ bước vào trong phòng, đến bên Arsi và nói anh ta đến đây theo lệnh thuyền trưởng chiếc tầu buồm lớn đang mắc kẹt trong băng sau đảo Klôvê. Thuyền trơprng nhắn Arsi và đồng đội của anh hãy chuẩn bị hành lý và lên tầu ngay tối nay. Bão đã lại nổi lên và biển bắt đầu tan băng về phía tây rất xa. Có thể trước khi trời sáng đã có thể thông lối ra khơi về Xcôtlen.

- Em có nghe anh ta nói gì không, Enxalin?- Arsi quay lại hỏi EnxalinEm có bằng lòng đi theo anh không?

- Không, - Enxalin trả lời. - Em sẽ không đi theo anh đâu.

Nhưng trong thâm tâm cô cảm thấy sung sướng vì cô nghĩ dù sao anh ấy vẫn còn khả năng rời khỏi nơi đây trước khi lính canh kịp đến bắt.

Arsi đứng dậy, đến chỗ Phillip và Rêginan ngồi để báo tin anh ta vừa nhận được.

- Các cậu hãy về quán trọ chuẩn bị đồ đạc trước đi, mình còn phải nói với Enxalin vài lời. - Anh ta nói với các bạn.

Nhìn thấy Arsi quay lại, Enxalin khoát tay làm hiệu bảo anh đi.

- Anh còn quay lại làm gì, Arsi? - Cô kêu lên. - Sao anh không hết sức khẩn trương lên tầu đi?

Enxalin yêu Arsi tha thiết. Cô đã phản anh để giúp người chị nuôi, nhưng cô lại chẳng mong gì hơn là Arsi trốn thoát.

- Trước hết anh muốn một lần nữa xin em đi với anh. - Arsi nói.

- Nhưng anh biết rõ rồi đấy, em không thể đi với anh được. - Arsi ạ, - Enxalin nhắc lại.

- Tại sao thế? Em là một cô gái đơn độc, chẳng có ai lo cho cuộc đời em cả. Ngược lại, nếu em đi với anh, anh sẽ làm cho em trở thành một phu nhân có quyền thế. Anh là một người thuộc dòng dõi sang trọng ở nước anh. Em sẽ mặc lụa là, trang sức bằng vàng ngọc, em sẽ dự các vũ hội trong triều.

Enxalin sợ run lên vì thấy Arsi cứ chần chừ bên cô, trong khi anh vẫn còn có thể trốn thoát. Cô cố gắng lấy lại bình tĩnh để trả lời anh:

- Anh hãy đi ngay đi Arsi, đừng có cố thuyết phục em làm gì cho mất thì giờ nữa.

- Anh muốn tâm sự với em điều này, Enxalin. - Arsi nói mỗi lúc mỗi dịu dàng hơn. - Khi anh nhìn thấy em lần đầu, anh chỉ định dụ dỗ và lừa dối em thôi. Trước đây anh hứa cho em lâu đài và của cải chỉ là để đùa chơi. Nhưng từ tối hôm kia, mọi ý định của anh đối với em đều là chân thực. Và bây giờ anh muốn, anh ao ước em trở thành vợ anh. Em có thể tin lời anh nói là sự thật, cũng như anh là một quý tộc và là một chiến sĩ.

Lúc này Enxalin nghe thấy tiếng nhiều người mang vũ khí đến quảng trường trước Tòa Thị sảnh.

"Nếu mình chịu đi với anh ấy thì anh ấy vẫn có thể thoát được. - Cô nghĩ. - Từ chối anh ấy, tức là mình đẩy anh ấy vào chỗ chết. Chính là vì mình mà anh ấy ở lại đây lâu như vậy để lính canh có đủ thời gian đến bắt anh. Tuy thế mình không thể đi theo kẻ đã giết hại tất cả những người thân yêu của mình."

- Arsi, - cô nói với hy vọng có thể làm anh ta sợ, - anh không nghe thấy tiếng một toán người mang vũ khí đi qua quảng trường đó sao?

- Có, anh có nghe thấy, - Arsi đáp, chắc có một vụ ẩu đả xẩy ra trong quán rượu. Em đừng lo, Enxalin ạ. Đó chỉ là tại có những dân chài cãi nhau vì chuyện không đâu đó thôi.

- Arsi, - Enxalin khẩn khoản nói, - anh không nghe thấy tiếng họ dừng chân lại trước Tòa Thị sảnh hay sao?

Enxalin run từ đầu đến chân, song Arsi không nhận thấy điều đó và vẫn thản nhiên.

- Thế em còn muốn họ dừng lại nơi nào nữa? - Anh ta nói. - Họ phải dẫn vào đấy những kẻ phá rối trật tự để nhốt họ vào ngục tối trong Tòa Thị sảnh chứ? Em đừng để ý đến việc của họ, Enxalin ạ, mà hãy nghe anh, anh van xin em hãy theo anh xuống tầu.

Một lần nữa Enxalin cố làm cho Arsi phải sợ:

- Arsi, anh không nghe thấy bọn lính đang xuống cầu thang vào phòng này hay sao?

- Có chứ, anh có nghe thấy. Chắc họ vào đây uống bia sau khi đã tống giam xong những người bị bắt. Thôi em đừng nghĩ tới họ nữa, Enxalin. Em hãy nghĩ tới việc ngày mai chúng mình sẽ cùng nhau ra khơi trở về quê hương anh.

Enxalin tái xanh như xác chết, toàn thân run rẩy, nói không ra tiếng nữa.

- Arsi, - cô lắp bắp, anh không thấy họ đang nói chuyện với bà chủ quán đằng kia, bên quầy hàng đó sao? Chắc họ hỏi bà ta xem có kẻ nào trong số người họ đi tìm đang ở trong phòng này hay không.

- Họ đang bảo bà chủ dọn cho họ uống thứ rượu mạnh và nóng trong cái đêm gió bão này đó thôi. - Arsi noí. - Em đừng run như vậy, Enxalin, em có thể đi theo anh mà không sợ gì hết. Anh xin cam đoan với em nếu bây giờ cha anh muốn cưới cho anh một cô gái sang trọng nhất ở quê anhg thì anh cũng nhất quyết từ chối. Hãy tin anh, hãy vượt biển với anh. Enxalin, hạnh phúc và niềm vui sé chào đón em.

Mỗi lúc càng có nhiều người lính xuất hiện ở cửa ra vào. Enxalin không còn kìm giữ nổi nỗi lo sợ của mình nữa. "Mình không thể nhìn quân lính bắt anh ấy được" - cô nghĩ vậy rồi nghiêng người về phía Arsi, cô thì thầm:

- Arsi, anh không nghe thấy bọn lính đang hỏi bà chủ quán xem những kẻ đã giết cụ Arnơ có ở đây không à?

Lúc này Arsi mới đưa mắt nhìn quanh căn phòng, anh thấy mấy người lính đang nói chuyện với bà chủ quán, song anh vẫn không đứng dậy chạy trốn như Enxalin mong muốn; anh ngả người về phía Enxalin nhìn cô chằm chằm.

- Enxalin có phải chính cô đã nhận ra tôi và đã tố cáo tôi không? - Anh ta hỏi.

- Em làm việc đó chỉ vì người chị nuôi của em, để chị ấy được yên nghỉ dưới mồ. - Enxalin trả lời. - Chỉ có Chúa mới biết được em phải trả giá việc đó như thế nào. Nhưng anh hãy trốn đi, anh Arsi, anh vẫn còn đủ thời gian, họ chưa chắn hết các lối ra đâu.

- Ôi, con chó sói con, - Arsi nói. - Ngay khi nhìn thấy mày lần đầu tiên trên bến, tao đã nghĩ rằng tao phải giết mày rồi.

Nhưng Enxalin đã đặt tay lên cánh tay Arsi và nói:

- Anh hãy chạy đi anh Arsi. Em không thể chịu đựng nổi cảnh tượng họ bắt anh. Nếu anh không muốn chạy một mình thì nhờ ơn Chúa, em sẽ đi với anh. Nhưng đừng vì em mà ở lại đây lâu hơn nữa, Arsi, em sẽ làm tất cả những gì anh muốn để cứu được tính mệnh anh.

Arsi giận sôi lên, anh ta nói với Enxalin, giọng chua chát:

- Cô gái xinh đẹp ơi, chẳng bao giờ cô có dịp xỏ chân vào đôi giày khiêu vũ thêu chỉ vàng để dạo chơi trong những căn phòng thêng thang của một lâu đài nữa đâu. Suốt cuộc đời này cô sẽ phải ngồi mổ cá ở đây, ở cái đất Marxt'răng này. Sẽ chẳng bao giờ cô lấy được một người chồng có cả một tòa lâu đài và một thái ấp nữa đâu, Enxalin ạ. Chồng cô sẽ chỉ là một anh đánh cá nghèo khổ, và nhà cô sẽ chỉ là một căn lều dựng trên một gò đá trơ trụi.

- Anh không nghe thấy họ đã đặt lính canh ở tất cả các cửa và đã chĩa mũi giáo vào lối đi ở cổng lớn hay sao? - Enxalin hỏi. - Tại sao anh không mau mau thoát khỏi nơi đây? Tại sao anh không mau chạy trốn trên mặt băng và ẩn trên một con tầu?

- Tôi không chạy trốn chỉ vì một lý do là tôi thích ngồi đây tán chuyện với cô, Enxalin ạ. - Arsi nói. - Cô có biết rằng đối với cô thế là hết mọi thú vui rồi không, Enxalin. Cô có biết rằng đối với tôi thế là hết mọi hy vọng chuộc tội rồi không?

- Arsi, - Enxalin thì thầm và hoảng hốt đứng dậy. - Bọn lính canh đã chuẩn bị xong rồi kìa, họ đang đến bắt anh. Anh hãy chạy ngay đi. Em sẽ tới gặp anh trên tầu, Arsi, miễn là anh chạy trốn ngay đi.

- Cô chẳng cần lo lắng như vậy, Enxalin ạ. - Arsi nói. Chúng ta vẫn còn thời gian để nói chuyện. Bọn lính đâu dám nhảy bổ vào tôi ngay, trong phòng này, nơi mà tôi vẫn có thể tự vệ được. Họ định bắt tôi tren cái cầu thang chật hẹp của căn hầm. Họ sẽ định dùng giáo dài đâm tôi đấy. Cô mong đợi cái đó lắm phải không, cô Enxalin?

Enxalin càng sợ hãi bao nhiêu, Arsi càng bình tĩnh bấy nhiêu. Cô không ngừng van vỉ anh chạy trốn, còn anh ta thì vẫn chế giễu cô.

- Cô đừng quá tin rằng họ sẽ bắt được tôi. Tôi đã từng gặp nhiều cảnh ngộ còn nguy ngập hơn thế này, vậy mà tôi vẫn thoát được. Cách đây vài tháng ở Thụy Điển, tôi ở trong một tình thế còn hiểm nghèo hơn. Trong triều đình có vài tên vu cáo đã buộc tội cho đội vệ binh Xcôtlen là bất trung với vua Jăng. Nhà vua đã tin lời chúng. Ngài đã cho bắt ba sĩ quan chỉ huy giam vào pháo đài, đuổi binh lính của họ ra khỏi vương quốc và cho quân giám sát cho đến tận khi đám binh lính ấy ra khỏi biên giới...

- Chạy đi Arsi, - Enxalin cầu khẩn.

- Cô đừng lo cho tôi, Enxalin ạ. Arsi cười độc ác. - Tối nay tôi đã trở lại bình thường như mọi khi. Cô gái kia không hiện lên nữa cho nên tôi vẫn có thể thoát khỏi nguy khốn. Nhưng tôi muốn kể cho cô nghe tiếp câu chuyện ba chàng Xcôtlen bị giam trong ngục của vua Jăng đã. Khi bọn gác ngục đang say, họ đã lẩn ra khỏi pháo đài và trốn thoát. Nhưng chừng nào họ còn ở trong vương quốc của vua Thụy Điển, họ chưa dám tiết lộ tên tuổi của họ. Không có cách gì khác, họ phải lấy da thú để che thân và xưng là thợ thuộc da đi quanh vùng tìm việc làm.

Enxalin đến bây giờ mới nhận thấy Arsi đã thay đổi thái độ đối với cô. Cô hiểu rằng Arsi căm thù cô từ lúc anh ta biết cô đã phản bội anh ta.

- Đừng nói nữa Arsi, - cô nói.

- Tại sao lại đánh lừa tôi trong khi tôi tin cô biết chừng nào. - Arsi nói. - Bây giờ tôi lại thành người như trước kia rồi. Tôi chẳng băn khoăn là phải tha chết cho ai nữa. Cô sẽ thấy tình hình sắp kết thúc có lợi cho tôi, như trước đây vẫn thường thế. Khi tôi và các bạn tôi đi xuyên qua nước Thụy Điển và đến đây, trên bờ biển này, tình thế của chúng tôi chẳng nguy ngập hay sao? Chúng tôi không có tiền để sắm quần áo nghiêm chỉnh. Chúng tôi không có tiền để trả cho một cuộc hành trình về Xcôtlen. Chúng tôi không còn cách nào khác là cướp số êquy của nhà giáo sĩ ở Xonberga.

- Anh đừng nóichuyện đó nữa. - Enxalin ngắt lời.

- Nói chứ, Enxalin. Cô phải nghe tôi nó đến hết. Có một điều mà cô không biết, trước tiên chúng tôi đánh thức cụ Arnơ dậy, bảo cụ đưa tiền cho chúng tôi. Nếu như cụ ưng thuận thì chúng tôi sẽ không làm gì cụ cả. Ngưng cụ chống lại, vì thế chúng tôi buộc phải hạ sát cụ. Và sau khi giết cụ, tất nhiên chúng tôi phải giết tất cả người nhà của cụ.

Enxalin không ngắt lời Arsi nữa, nhưng cô thấy lòng cô lạng giá như một bãi sa mạc, cô run lên khi nghe Arsi nói nét mặt ngày càng tàn bạo khát máu. Cô tự nhủ: "Mình đang làm gì thế này? Mình thật điên rồ khi đi yêu một kẻ đã giết tất cả những người thân yêu của mình. Cầu Chúa hãy tha tội cho con."

- Khi chúng tôi tưởng mọi người chết hết, - Arsi tiếp tục nói, chúng tôi đã kéo cái rương tiền ra khỏi nhà rồi chúng tôi nổi lửa, để thiên hạ tưởng rằng cụ Arnơ bị chết cháy trong nhà.

"Mình đã yêu một con chó sói hung dữ, - Enxalin nghĩ, - thế mà mình đã muốn cứu hắn thoát khỏi sự trừng phạt."

- Thế rồi chúng tôi vội vàng vượt băng đi ra biển. Chúng tôi rất yên tâm khi ngọn lửa vẫn bốc cao, nhưng khi thấy nó lụi đi thì chúng tôi bắt đầu thấy sợ. Chúng tôi đoán rằng người ta đã đến cứu, dập tắt đám cháy và sắp đuổi theo chúng tôi. Chúng tôi bèn quay chiếc xe trượt để trở lại đất liền, nơi chúng tôi đã nhận ra một cửa sông phủ một lớp băng mỏng. Chúng tôi lôi rương tiền ra khỏi xe rồi thúc ngựa kéo xe về phía cửa sông, và lớp băng đã vỡ sụt dưới chân ngựa. Chúng tôi nhảy lên mép băng, mặc cho con ngựa chết đuối, Enxalin, nếu cô không phải là một cô gái, cô sẽ hiểu rằng đó là một hành động rất dũng cảm, chứng tỏ rằng chúng tôi thật đáng mặt nam nhi.

Enxalin vẫn lặng người không nói. Tim cô đau nhói. Nhưng bây giờ Arsi căm thù cô và thích làm cho cô đau khổ.

- Sau đó chúng tôi đã cởi thắt lưng buộc vòng quanh cái rương để kéo nó đi. Song vì nó để lại vết trên mặt băng nên chúng tôi phải bẻ cành thông để lót xuống dưới. Chúng tôi cởi giày đi chân đất, để thiên hạ khỏi tìm thấy dấu vết chúng tôi.

Arsi dừng lại nhìn Enxalin bằng con mắt diễu cợt:

- Mặc dù chúng tôi đã đi thoát, tình cảnh chúng tôi vẫn gay go. Dù đi đến đâu chăng nữa, với những bộ quần áo bê bết máu, người ta sẽ nhận ra và bắt chúng tôi. Nhưng cô nghe tôi nói chứ, Enxalin, để rồi cô bảo cho những người săn đuổi chúng tôi biết rằng không dễ mà bắt được những chàng trai như chúng tôi đâu. Cô hãy nghe điều này nữa, trong khi chúng tôi vượt băng để đến Marxt'răng, chúng tôi đã gặp được những người bạn đồng hương của chúng tôi, chính là những người đã bị vua Jăng đuổi khỏi Thụy Điển, nhưng vì biển đóng băng nên chưa thể rời Marxt'răng được. Họ giúp chúng tôi qua cơn nguy khốn và kiếm quần áo cho chúng tôi mặc Từ đó chúng tôi sống yên ổn ở Marxt'răng. Và nếu như cô không bất tín đánh lừa tôi thì sẽ chẳng có mối nguy nào đe dọa chúng tôi cả.

Enxalin vẫn câm lặng. Cô đau đớn quá. Cô cảm thấy tim cô hầu như ngừng đập.

Nhưng Arsi đã đẩy ghế đứng dậy và thét:

- Và ngay cả tối nay cũng chẳng thể có điều gì không hay xảy ra cho chúng tôi cả, Enxalin ạ.

Vừa nói anh ta vừa dang tay nhấc bổng Enxalin lên. Giơ cô trước mặt mình như một cái lá chắn, Arsi chạy qua gian phòng thấp tiến về phía cửa. Mấy người lính gác cửa chỉa mũi giáo nhọn về phía Arsi, nhưng không dám đâm vì sợ làm bị thương Enxalin.

Khi Arsi chạy tới cầu thang hẹp, anh ta vẫn giơ Enxalin về phía trước như vậy. Cô che cho anh ta còn vững hơn một chiếc áo giáp tốt nhất, bởi vì những người lính gác lối đi không thể sử dụng vũ khí của mình. Cứ như thế, Arsi lên gần hết cầu thang, và Enxalin đã cảm thấy gió lạnh ngoài trời thổi vào mặt.

Cô không còn yêu Arsi chút nào nữa. Một mối tử thù dâng trào xâm chiếm lòng cô, và cô chỉ còn thấy Arsi là một tên sát nhân ghê tởm. Thấy hắn sắp chạy thoát vì dùng người cô để che chở cho hắn, cô giơ tay nắm lấy một mũi giáo của người lính gác, chĩa thẳng mũi nhọn vào tim mình. "Rút cục, mình muốn xử sự sao cho hành động của mình giúp ích cho chị nuôi của mình.." - Enxalin nghĩ vậy. Và khi Arsi chạy thêm một bước nữa trên cầu thang, mũi giáo xuyên vào tim Enxalin.

Arsi đã lên hết cầu thang, những người lính lùi lại khi nhìn thấy Enxalin bị thương, và thế là kẻ sát nhân trốn thoát.

Khi Arsi chạy tới quảng trường, anh ta nghe thấy tiếng kêu vọng tới từ một phố nhỏ:

- Cứu lấy người anh em! Cứu lấy người anh em! Vì Xcôtlen! Vì Xcôtlen!

Đó là Phillip và Rêginan đã kịp tập họp đám lính Xcôtlen và cùng họ chạy tới cứu Arsi.

Arsi lao về phía họ, kêu vang lên:

- Đến đây! Đến đây! Vì Xcôtlen! Vì Xcôtlen!



TRÊN BĂNG


Arsi chạy trên băng, tay vẫn giữ chặt Enxalin.

Phillip và Rêginan quây lấy hắn, họ muốn kể cho hắn nghe họ đã phát hiện ra âm mưu vây bắt, đã chuyẻn được cái rương nặng đựng những đồng êquy lên tầu và đã tập họp được bọn đồng hương ra sao. Song Arsi không để ý nghe họ nói.

- Cậu mang ai trong tay vậy? - Rêginan hỏi.

- Enxalin đấy, - Arsi trả lời. Mình sẽ đưa cô ấy về Xcôtlen. Mình không muốn để cô ấy ở lại đây sau khi mình đi. Ở đây mãi mãi cô ấy sẽ chỉ là một cô gái mổ cá nghèo.

- Chắc như vậy rồi. - Rêginan nói.

- Ở đây cô ta sẽ chỉ được mặc đồ len thô, cô ta sẽ chỉ được ngủ trên những chiếc giường chật hẹp, trên những tấm váv cứng. Còn mình, mình sẽ đặt cô ấy trên những tấm đệm êm ái nhất, mình sẽ mua cho cô ấy một chiếc giường bằng cẩm thạch. Mình sẽ choàng vào người cô ấy những chiếc áo lông quý, đi vào chân cô ấy những đôi giầy đính kim cương.

- Cậu định đem lại cho cô ấy vinh hạnh lớn, - Rêginan nói.

- Mình không thể để cô ấy lại đây được. - Arsi nói tiếp. - Ai hơi đâu mà chăm lo cho một cô gái nghèo như vậy. Chẳng mấy lúc cô ấy sẽ bị mọi người bỏ rơi. Sẽ chẳng có ai đến nhà thăm cô ấy cả, sẽ chẳng có ai đến chia sẻ nỗi cô đơn của cô. Nhưng một khi mình về đến quê hương mình, mình sẽ xây cho cô ấy một tòa nhà tuyệt đẹp. Tên của cô ấy sẽ được khắc trên đá cứng đế người ta không bao giờ quên cô. Ngày nào mình cũng sẽ đến với cô, và xung quanh cô sẽ là một cảnh tượng lộng lẫy khiến những người ở tận xa cũng phải đến thăm cô. Đèn nến sẽ được thắp suốt ngày đêm, những lời ca điệu nhạc sẽ vang lên như trong một đám lễ hội vĩnh cửu.

Bão thổi tạt vào mặt những người đang bước trên băng; bão giật chiếc áo choàng của Enxalin làm nó bay như một lá cờ.

- Cậu mang Enxalin giúp mình một lát để mình sửa lại áo choàng cho cô ấy. - Arsi nói.

Rêginan đỡ lấy Enxalin, nhưng vừa ôm cô trong cánh tay, anh ta giật mình sợ hãi đến nỗi buông thõng tay làm Enxalin rơi tuột xuống băng.

- Enxalin chết rồi mà mình không biết. - Rêginan nói.



TIẾNG SÓNG XÔN XAO


Suốt đêm thuyền trưởng chiếc tầu buồm lớn đi đi lại lại mãi trên boong. Trời u ám, gió giật lồng lộn; đem lại những cơn lốc tuyết và mưa xối xả. Thế nhưng băng vẫn cứng ngắc quanh tầu. Nhẽ ra thuyền trưởng có thể vào ngủ yên trong cabin của ông. Song ông vẫn đứng suốt đêm. Thỉnh thoảng ông lại khum khum bàn tay đặt vào tai để nghe ngóng.

Thật khó mà biết được ông định lắng nghe cái gì.

Tất cả thuỷ thủ và hành khách đi Xcôtlen đã lên tầu. Lúc này họ đã nằm ngủ trong khoang giữa hai boong. Thuyền trưởng có thể muốn nghe những câu chuyện giữa họ với nhau. Khi cơn bão điên cuồng ập đến con tầu bị kẹt thì như thường lệ nó xô quật dữ dội như để đẩy thuyền ra khơi. Nhưng con tầu không nhúc nhích, gió bão càng đập mạnh hơn. Những cục băng dính trên buồm, chão, dây dợ va vào nhau. Mạn thuyền kêu răng rắc, rít trèo trẹo dưới sức gió ép và cột buồm phát ra những tiếng kêu khô khốc như sắp gãy gục trước những đợt tấn công dữ dội của gió bão.

Đêm ấy không lúc nào yên tĩnh. Đôi khi trong không gian có tiếng tuyết rít nhè nhẹ, nhưng khi mưa ập tới thì những tiếng lộp bộp, rào rào vang lên.

Những kẽ nứt trên băng nhiều dần lên, va người ta nghe như thấy tiếng đại bác của những đoàn tầu chiến đánh nhau ngoài khơi.

Nhưng thuyền trưởng không để tai nghe những tiếng động ấy. Ông đứng suốt đêm, đến tận khi rạng đông tỏa mờ mờ phía chân trời, thế nhưng ông vẫn chưa nghe thấy tiếng mà ông muốn nghe.

Cuối cùng, một tiếng rì rào đều đều ngân nga vang lên trong bóng tối, tiếng rì rào dìu dịu vuốt ve tựa như tiếng hát từ xa.

Thế là thuyền trưởng bắt đầu chạy, ông trèo qua những chiếc ghế dài dùng để ngồi chèo đặt giữa con tầu, nơi các thủy thủ đang nằm ngủ.

- Dậy đi. - Ông kêu lên. - Nắm lấy sào, cầm lấy chèo, giờ thoát thân của chúng ta sắp đến rồi. Ta đã nghe thấy tiếng gầm rống của băng tan, Ta đã nghe thấy tiếng reo của sóng nước.

Mọi người choàng dậy. Ai nấy vội vàng chạy về vị trí của mình dọc theo con tầu trong ánh bình minh đang lên chầm chậm.

Khi trời đã sáng rõ để có thể thấy tình hình đã xẩy ra trong đêm vừa qua thì rõ ràng là băng đã tan trong các vịnh, các eo biển ra tận ngoài khơi. Nhưng rong cái vịnh mà chiếc tầu buồm này đang bị giam chân, mặt băng không có đến một kẽ nứt nhỏ, nó vẫn phẳng lì và rắn chắc.

Một bức tường băng lớn đứng sừng sững trong eo biển trấn cửa vịnh. Ở phía bên ngoài, những làn sóng đã nô đùa thỏa thích, liên tiếp những tảng băng nổi bập bềnh va vào bức thành băng.

Ở xa hơn nữa, vô số cánh buồm chen chúc nhau trong một eo biển. Tất cả những người đáng cá bị băng giữ lại ở Marxt'răng đang hối hả ra khơi. Biển đang nổi sóng, và những mảng băng vẫn còn dập dềnh. Nhưng dân chài lưới không muốn đợi đến lúc bão tan hẳn nên họ đã nhanh chóng lên đường. Họ đứng trước mũi thuyền, chăm chú quan sát các đợt sóng. Họ dùng mái chèo gạt những cục băng nhỏ ra xa. Nhưng khi có những tảng băng lớn xô đến trước mặt, họ quay bánh lái cho thuyền chuyển sang hướng khác.

Thuyền trưởng chiếc tầu buồm trèo lên boong thượng, nhìn dõi theo những con thuyền đánh cá. Ông thấy lối đi của họ thật nguy hiểm, song họ cũng lần lượt thoát và ra gần tới biển khơi.

Đứng ngắm cánh buồm đang lướt về phía mặt nước xanh, thuyền trưởng ao ước cũng được ra đi đến trào nước mắt.

Vậy mà tầu của ông vẫn không nhúc nhích. Và trước mặt ông băng vẫn chồng chất thành một bức tường ngày càng cao.

Ở nơi xa khơi, không phải chỉ có những tầu thuyền đang lênh đênh trên sóng, mà còn có những núi băng nhỏ trắng toát trrôi bập bềnh. Đó là những tảng băng lớn bị dồn dập va vào nhau, và lúc này chúng đang trôi dạt về phương nam. Dưới ánh mặt trời sớm mai, chúng lấp lánh như bạc và đôi khi ánh hồng lên, tựa như chúng được phủ một lớp hoa hồng.

Chen vào tiếng gió bão ầm ầm có những tiếng gọi dội lên. Khi thì chúng hóa thàng một tiếng hát du dương, khi thì chúng vang ầm ầm như tiếng kèn đồng. Những tiếng gọi ấy thức tỉnh niềm vui, dường như mọi trái tim đều mở rộng để lắng nghe chúng. Cúng phát ra từ những đôi cánh của bầy thiên nga đang từ phương nam xa xăm bay tới.

Khi thuyền trưởng thấy những núi băng trôi về phương nam, và đàn thiên nga bay về phương bắc, ông cảm thấy khát khao được ra khơi đến nỗi ông bất giác vặn vẹo đôi tay. Ông nói: "Thật khổ cho ta vẫn còn phải giam chân ở đây. Đến khi nào băng mới tan trong vịnh nhỉ? Ta còn phải chờ đợi bao nhiêu ngày nữa?"

Đang lúc mông lung suy nghĩ như vậy, ông nhìn thấy một người đàn ông đánh xe trượt băng đi tới. Người này đến từ một eo biển hẹp trong vùng Marxt'răng. Bác ta lướt trên băng không chút do dự, như không hề biết rằng sông đã chở tầu thuyền đi.

Khi đến bên chiếc tầu buồm, bác ta ngẩng đầu lên gọi thuyền trưởng:

- Này ông bạn thân mến, bị kìm chân giữa lớp băng này ông đã có gì ăn chưa? Ông có muốn mua cá mòi muối, các thu khô hay trạch hun khói không?

Thuyền trưởng không thèm trả lời, ông giơ nắm đấm lên và buột ra một tiếng rủa.

Bác hàng cá bèn nhảy xuống xe, mang đặt trước con ngựa của bác một bó cỏ khô, rồi trèo lên boong chiếc tầu buồm.

Đến bên thuyền trưởng, bác nói bằng một giọng nghiêm trang:

- Hôm nay tôi đến đây không phải để bán cá đâu. Song, tôi biết ông là một con người lương thiện, kính Chúa. Vì thế tôi xin ông hãy giúp tôi tìm một cô gái mà hôm qua bọn lính đánh thuê người Xcôtlen đã mang lên tầu ông.

- Tôi không hề biết có cô gái nào được đưa lên tầu tôi cả, - thuyền trưởng trả lời. - Đêm qua tôi không nghe thấy tiếng phụ nữ nào ở đây.

- Tôi là Tôraranh, làm nghề bán cá, - bác ta lại nói. Chắc ông cũng đã nghe nói về tôi. Chính tôi đã ăn tối với cụ Arnơ ở Xonberga cái đêm cụ bị giết hại. Từ dạo đó tôi nuôi cô cháu nuôi của cụ Arnơ trong nhà tôi. Nhưng tối qua cô ấy đã bị bọn người giết cụ Arnơ bắt, và chắc chắn là chúng đã đưa cô ấy lên tầu này.

- Vậy thế bọn giết cụ Arnơ đang ở trên tầu của tôi à? - Thuyền trưởng thốt lên sợ hãi.

- Ông cũng biết tôi là một kẻ thân nghèo phận hèn. - Tôraranh đáp. - Tôi bị liệt một cánh tay nên rất ngại chẳng dám liều mình làm một việc mạo hiểm. Từ hai tuần nay tôi đã biết ai là những kẻ giết cụ Arnơ, nhưng tôi không dám trả thù họ. Chính vì tôi chậm trễ như vậy nên chúng đã trốn thoát và có dịp bắt đi cô gái ấy. Bây giờ tôi đã quyết định không thể để tự mình phải trách móc dằn vặt trong việc này nữa, ít ra tôi cũng phải cố cứu lấy cô gái.

- Nếu như bọn sát nhân đang ở trên tầu này thì tại sao đội lính canh không đến đây bắt chúng?

- Tôi đã cầu xin van nài họ suốt cả đêm qua, và cả sáng nay nữa, song họ không dám mạo hiểm đến đây. Họ nói rằng ở đây có hàng trăm lính đánh thuê đụng đầu với chúng thì rất nguy hiểm. Cho nên tôi nghĩ rằng nhờ ơn Chúa, tôi phải đến đây một mình để xin ông giúp tôi tìm cô gái, vì tôi biết ông là một người kính Chúa.

Song thuyền trưởng lại không hề quan tâm đến chuyện cô gái. Ông chỉ ngĩ đến bọn sát nhân.

- Tại sao bác biết rằng bọn sát nhân đang ở trên tầu tôi? - Ông hỏi.

Tôraranh đưa tay chỉ cái rương lớn bằng gỗ xồi đặt giữa những chiếc ghế dài dùng để ngồi chèo thuyền:

- Đã bao lần tôi nhìn thấy chiếc rương này ở nhà cụ Arnơ rồi nên tôi không thể nhầm lẫn được. - Tôraranh đáp. -Nó đựng những đồng êquy của cụ Arnơ, va những đồng tiền ấy ở đâu thì tất nhiên bọn sát nhân phải ở đó.

- Cái rương này là của Arsi và hai anh bạn của hắn tên là Phillip và Rêginan, - thuyền trưởng nói.

- Đúng, - Tôraranh nhìn thẳng vào mắt thuyền trưởng đáp. Cái rương ấy là của Arsi, Phillip và Rêginan.

Thuyền trưởng đưa mát nhìn xung quanh rồi mới lên tiếng hỏi:

- Vậy theo bác khi nào băng mới tan trong vịnh?

- Năm nay ở đây xẩy ra điều kỳ lạ. - Tôraranh trả lời. - Thường thường vịnh này được thông rất sớm vì dòng nước ở đây chảy rất mạnh. Nhưng trong tình trạng hiện tại thì ông phải chú ý để khỏi bị ép vào bờ khi băng bắt đầu nhúc nhích.

- Tôi cũng chỉ lo chuyện đó. - thuyền trưởng đáp. Rồi ông lại im lặng hồi lâu mắt hướng nhìn ra biển.

Mặt trời buổi sáng rực rỡ trên cao, tỏa những tia nắng lấp lánh trên sóng nước. Những tầu bè đã được tự do đang lướt về khắp các ngả, những con chim biển từ phương nam bay về cất tiếng kêu vui mừng. Cã lượn lờ ngang mặt nước, thỉnh thoảng quẫy vọt lên cao, lóng lánh trên sóng, như say sưa sau một thời gian dài bị giam hãm dưới băng. Những con mòng biển trước đây phải kiếm ăn xa tít ngoài mép băng nay trở về đất liền từng đàn để kiếm ăn nơi quen thuộc.

Thuyền trưởng bồn chồn trước cảnh tượng đó. Ông nói: " Vậy ra ta là bè bạn của những kẻ sát nhân, những kẻ bất lương ư? Ta có nên nhắm mắt để khỏi thấy vì sao Chúa đóng cửa biển hãm tầu ta lại không? Ta có nên chết cho bọn sát nhân trên tầu ta không?"

Nghĩ vậy, ông nói với các thủy thủ:

- Bây giở thỉ ta biết vì sao chúng ta bị giam chân trong khi mọi tầu bè khác đã được ra khơi. Đó là vì một bọn sát nhân, một bọn bất lương đang ở trên tầu của chúng ta.

Nói rồi thuyền trưởng đến gặp bọn lính Xcôtlen vẫn đang ngủ trong khoang giữa hai boong tầu. Ông nói với họ:

- Hỡi các bạn! Các bạn hãy nằm yên một lát nữa dù các bạn có nghe thấy tiếng kêu, tiếng động nào trên tầu. Chúng ta phải vâng theo những lời cảnh cáo của Chúa và không được dung túng cho những kẻ bất lương đang ở bên chúng ta. Nếu các bạn chịu nghe tôi, tôi hứa sẽ cho chuyển đến chỗ các bạn cái rương đựng những đồng êquy của cụ Arnơ, để các bạn có thể chia nhau.

Rồi ông quay lại nói với Tôraranh:

- Bác hãy quay về xe và quăng cá của bác ra ngoài đi. Bác sẽ phải chở một thứ khác đó.

Sau đó thuyền trưởng và các thủy thủ xông vào buồng của Arsi và hai bạn hắn. Họ trói chặt cả ba tên Xcôtlen còn đang ngủ say.

Khi ba tên tỉnh dậy định chống lại, các thủy thủ liền dùng rìu và giáo đánh chúng. Thuyền trưởng nói:

- Chúng mày là những kẻ sát nhân, những kẻ bất lương. Làm sao chúng mày dám tin là sẽ thoát khỏi lưới trời? Chúng mày không hiểu rằng vì chúng mày mà Chúa đã đóng cửa biển lại hay sao?

Lú đó ba tên cố gọi to đồng bọn đến cứu. Song thuyền trưởng nói:

- Thôi, chúng mày đừng gọi nữa, họ sẽ không đến đâu.Ta đã cho họ những đồng êquy của cụ Arnơ để họ chia nhau rồi và hiện họ đang bận lấy mũ đong tiền. Chúng mày đã phạm tội ác vì những đồng êquy này, và cũng vì những đồng tiền ấy mà chúng mày bị trừng phạt.

Tôraranh chưa kịp gỡ hết cá ra khỏi xe thì thuyền trưởng cùng các thủy thủ đã từ trên tầu bước xuống mặt băng. Họ dẫn theo ba người bị trói gô, thân mình trông thật thảm hại vì bị đánh, và những vết thương đã làm cho chúng yếu đi.

- Chúa đã không hoài công mà gọi bảo ta, - thuyền trưởng nói. - Ngay khi ta biết được ý Người, ta đã vâng theo lời Người.

Họ lôi ba tên tù lên xe trượt của Tôraranh, và Tôraranh chở chúng về tận Marxt'răng qua những vịnh hẹp và những eo biển còn bị đóng băng.

Đến chiều thuyền trưởng trèo lên tầng thượng của con tầu và nhìn ra biển. Song vẫn chẳng có gì thay đổi quanh con tầu. Bức tường băng vẫn mỗi lúc một cao hơn.

Bỗng ông nhận ra một đoàn người rất đông đang tiến về phía con tầu của ông. Đó là toàn thể những người phụ nữ ở Marxt'răng cả già lẫn trẻ. Họ mặc đồ tang và dẫn theo vài thiếu niên đang khiên một cái cáng.

Khi đến bên con tầu, họ nói với thuyền trưởng:

- Chúng tôi đến đây để tìm một cô gái đã chết. Bọn sát nhân đã thú nhận rằng cô ấy đã hy sinh tính mệnh để chúng không thể thoát khỏi sự trừng phạt. Tất cả phụ nữ ở Marxt'răng chúng tôi đến đây tìm cô gái ấy để rước về thành phố của chúng tôi với tất cả vinh dự xứng đáng với cô ấy.

Họ tìm thấy Enxalin. Họ đưa cô lên bờ và mang về Marxt'răng. Tất cả phụ nữ đều khóc cô, người đã yêu một kẻ bất lương, và lại hiến cả cuộc sống của mình để đẩy người yêu dấu của mình đến chỗ chết.

Trong khi đoàn phụ nữ trở về Marxt'răng thì gió bão và sóng biển liền phá vỡ mặt băng mà họ vừa bước chân qua. Và khi họ đưa Enxalin về đến thành phố, mặt biển cũng bắt đầu hoàn toàn thông tầu bè.


TÔ CHƯƠNG dịch
--- ------ ------ ------ -------

1 Cực hình trong đó tội nhân bị đập gãy chân rồi trói vào bánh xe.

Hết.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
       
Hiển thị bài viết từ:  Sắp xếp theo  
Trả lời đề tài  [ 10 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Hiện đại - NP] Chiếm đoạt tiểu bạch thỏ - Bạch Hắc

1 ... 89, 90, 91

2 • [Hiện đại] Mộng Dục - Huyền Namida

1 ... 52, 53, 54

3 • [Cổ đại - Trùng sinh] Sủng phi - Cửu Lam

1 ... 92, 93, 94

4 • List truyện ngôn tình hoàn + Ebook [Update 22/04]

1 ... 29, 30, 31

5 • [Hiện đại] Bà xã anh vô cùng cưng chiều em - Lâm Ái Dĩnh

1 ... 82, 83, 84

6 • [Hiện đại] Anh chồng tham ăn - Vãn Thất Thất

1 ... 18, 19, 20

7 • [Cổ đại] Mẫu hậu ta chỉ cần người ! - Thịt Nướng

1 ... 11, 12, 13

8 • [Xuyên không - Trùng sinh] Ác độc nữ phụ trùng sinh - Ngưng Huy Tuyết Đọng

1 ... 77, 78, 79

9 • [Hiện đại - Trùng sinh] Anh hai Boss đừng nghịch lửa - Cửu Trọng Điện

1 ... 78, 79, 80

10 • [Xuyên không - Điền văn] Điền viên cốc hương - Thẩm Duyệt

1 ... 91, 92, 93

[Hiện đại] Trò chơi chinh phục Ông xã kiêu ngạo quá nguy hiểm - Nam Quan Yêu Yêu

1 ... 94, 95, 96

12 • [Cổ đại - Trọng sinh] Đấu phá hậu cung - Kỳ Thật Ta Là Tiểu Thanh Tân

1 ... 68, 69, 70

13 • [Xuyên không - Trùng sinh] Hạnh phúc tái sinh - Đào Lý Mặc Ngôn [Cực Phẩm]

1 ... 41, 42, 43

14 • [Xuyên không] Sủng phi - Ái Hạ Lệ Tử

1 ... 51, 52, 53

[Xuyên không] Vương gia quá khí phách Vương phi muốn vùng lên! - Vân Mộc Tinh

1 ... 92, 93, 94

List truyện Xuyên không + Chủng điền văn + Trùng sinh hoàn (Update ngày 26/2)

1 ... 37, 38, 39

17 • List truyện ngôn tình sủng hoàn + Ebook [Update 10/04]

1, 2, 3, 4, 5

18 • [Trùng sinh - Hắc bang] Nữ vương hắc đạo Ông xã chớ làm loạn - Dực Yêu

1 ... 98, 99, 100

19 • [Hiện đại] Đè một cái liền đính ước - Đường Dao

1 ... 26, 27, 28

20 • [Xuyên không - Nữ tôn] Thê chủ tà mị - Nhược Thủy Lưu Ly

1 ... 66, 67, 68


Thành viên nổi bật 
Hạc Cúc
Hạc Cúc
Nminhngoc1012
Nminhngoc1012
Tuyền Uri
Tuyền Uri

glacialboy_234: thôi out! haz
glacialboy_234: hở! thiến à!
Hạc Cúc: Há há
glacialboy_234: TRIỀU HỒI THIẾN! THIẾN ƠI! NHỜ CÁI
Snow cầm thú HD: Gặp đúng người sai thời điểm
Snow cầm thú HD: Thất tình thật đó thím :v
Hạc Cúc: Umi bệnh khùm tái phát lảm nhảm v thui mai hết ngồi cười te :D3
Umi Vu: ^^ mn ko biết vì sao lại thế ah?
Hạc Cúc: Umi đừng lo 1 tháng bả bị vậy tầm chục lần :)2
Umi Vu: snow bị thất tinh hay làm sao mà nc bi thương thế?
Snow cầm thú HD: Tình là bi ai nếu không gặp đúng người sẽ đau tận xương tủy
Snow cầm thú HD: Sợi tơ duyên đứt đi rồi có nối lại đc không
Hạc Cúc: Ộp pa đi lấy ck :lol:
Snow cầm thú HD: Gửi đến mây nỗi nhớ đêm này
Snow cầm thú HD: Tôi đứng đây ôm trọn tình yêu cũ
Hạc Cúc: vắng lặn vậy chời :cry2: lạnh sống lưng
Apry618: Sao nhắn tin toàn bị nuốt mất nhỉ? Chẳng thấy nó được gửi đi
--Tứ Minh--: Py, cháu không nhớ nữa
copy: Được bao nhiêu tiền thế.
Đĩa bay là đồ tái chế từ vô vàn nguyên vật liệu ta bới từ bãi rác lên đấy
--Tứ Minh--: Py bà bà, cái đĩa bay ấy, hình như cháu bán đồng nát rồi

Apry, lúc đó mình mới ngoi lên sau mấy tháng dài lặn biết tích
Apry618: Nửa tháng rồi không lên
copy: Ta không cần biết ai lấy mất cái đĩa bay ấy. Bây giờ ta cảm thấy trái đất vô cùng vô cùng hợp với ta, cảm thấy vô cùng vô cùng thích trái đất nên ta không về nữa đâu
--Tứ Minh--: Apry, bạn off bao lâu rồi?
--Tứ Minh--: Py, người là Nguyệt Hà, và cái đĩa bay của người bị cháu mang cho con Xuẩn nhà cháu
Apry618: Chào @Hạ Quân Hạc. Thấy nhiều người lạ nhỉ ._. Hay tại mọi người toàn lên lúc mình không có mặt
copy: ừm, Có biết fb Nguyệt Hà và câu chuyện người ngoài hành tinh không
--Tứ Minh--: Py, đúng rồi
copy: minh nguyệt 75
Hạ Quân Hạc: Apry618 :wave3:
--Tứ Minh--: Py, đúng rồi

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.