Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 18 bài ] 

Ba sinh hương lửa - Doãn Quốc Sỹ

 
Có bài mới 24.06.2015, 11:11
Hình đại diện của thành viên
Cựu Editor Diễn Đàn
Cựu Editor Diễn Đàn
 
Ngày tham gia: 17.03.2014, 16:15
Tuổi: 25 Chưa rõ
Bài viết: 1833
Được thanks: 10945 lần
Điểm: 10.48
Có bài mới [Sưu tầm] Ba sinh hương lửa - Doãn Quốc Sỹ - Điểm: 10
Ba Sinh Hương Lửa
Tác giả: Doãn Quốc Sỹ
Nguồn: http://tusach.mobi

KHAI TỪ

Bên nhân vật chính- Cô Miên- còn những nhân vật khác chẳng kém phần quan trọng, vì tầm tư tưởng cùng nếp sống của họ góp phần không nhỏ vào câu chuyện. Để các bạn đỡ bỡ ngỡ, ngay từ buổi đầu tác giả xin giới thiệu họ cùng các bạn theo thứ bậc huynh trưởng:

Khiết và Khóa sinh năm 1913

Lãng sinh năm 1918

Hãng sinh năm 1921

Hiền sinh năm 1922

Tân sinh năm 1923

Kha sinh năm 1924

Miên sinh năm 1926

Căn cứ vào thứ bậc tuổi tác trên chúng ta thấy Khiết, Khóa và Lãng ở vào cùng thế hệ, tạm mệnh danh là thế hệ Nguyễn Thái Học vì họ có trực tiếp tham gia hoặc gián tiếp chịu ảnh hưởng phong trào phục quốc của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Còn năm người kia: Hãng, Hiền, Tân, Kha, Miên thuộc thế hệ sau, trưởng thành trong cuộc khói lửa toàn dân kháng pháp 1946- 1954

Kể ra theo lề lối nghiêm chỉnh xưa của các cụ, quan niệm khắt khe về hai chữ hiếu đễ, trên kính dưới nhường, thì hai thế hệ trên khó mà có sự gần gũi thân mật như vậy. Bậc đàn anh xét nét, nghiêm cẩn; lũ đàn em khép nép, ngưỡng mộ, vâng lời. ở đây tuy đôi bên chênh lệch tới mười ba tuổi( người cao niên nhất là Khiết sinh năm 1913, người trẻ nhất là Miên, 1926), nhưng nhờ cả hai thế hệ đã thắm nhuần văn hóa Tây phương nên sự gặp gỡ và thông cảm của họ có phần dễ dàng.

Chao ôi, họ thân quý nhau như Lưu Bình, Dương Lễ, đùa cợt nhau như lũ hề yêu đòi- ngay cả những khi thất bại đau đớn nhất.

Theo thứ tự tuổi tác thì Khiếg(1913) đứng đầu, theo quyền ưu tiên của nhân vật thì Miên(1926) đứng đầu, nhưng câu chuyện không khởi đầu bằng Khiết, chẳng bằng Miên mà bằng Tân(1923).

Nào xin mời các bạn bắt đầu vào thề giới của tác giả. Nói là thế giới của tác già, kỳ thực là thế giới của chúng ta, nóng hổi thực tại đất nước.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 24.06.2015, 11:13
Hình đại diện của thành viên
Cựu Editor Diễn Đàn
Cựu Editor Diễn Đàn
 
Ngày tham gia: 17.03.2014, 16:15
Tuổi: 25 Chưa rõ
Bài viết: 1833
Được thanks: 10945 lần
Điểm: 10.48
Có bài mới Re: [Sưu tầm] Ba sinh hương lửa - Doãn Quốc Sỹ - Điểm: 10
Phần I - CÂU CHUYỆN KHỞI ĐẦU- Chương 1: THỜI THƠ ẤU-
I

Quê Tân- Vũ Đình Tân- ở làng Lại Vũ thuộc huyện Từ Sơn( Bắc Ninh), ngay bên tả ngạn song Đuống, cách cầu Đuống chừng hơn một cây số, vào những ngày đẹp trời làng Lại Vũ vẫn có thể nghe thấy tiếng còi mười giờ vẳng lên âm u từ Hà Nội.

Lại Vũ!- Nghe các cụ truyền lại thì sỡ dĩ đặt tên làng như thế vì thoạt kỳ thùy chỉ có hai họ Lai, Vũ đến sinh cơ lập nghiệp tại đây rồi về sau mới có thêm những họ Nguyễn, Hoàng, Quản, Doãn,…

Lên năm, Tân theo học vỡ lòng ông giáo Hanh ở xóm chợ. Sang năm lên sáu, Tân đã được ông giáo dạy tiếng Tây, chỉ học Vocabulaire thôi. Ông giáo chép những tiếng mots đó ở quyển sách in bên Tây. Trên bàn ông có quyển tự điển Pháp Việt rất còm cõi của vị cha cổ nào đó người Pháp. Nhiều khi gặp phải tiếng khó, ông giáo Hanh tra quyển từ điển không có, ông cau mày gắt, nửa như tự gắt, nửa như gắt với cuốn tự điển:

- Thế là cái đếch gì, thôi bỏ!

Sau khi lũ tiểu tử đã theo lệnh ông hí hoáy gạch bỏ tiếng mot không có trong tự điển đó, ông tiếp tục giảng sang chữ khác. Ông đọc chữ Pháp trước, học trò đọc theo; ông đọc nghĩa chữ Việt sau, học trò cũng đọc theo.

Có một trường hợp hãn hữu về nghĩa chữ mà Tân còn nhớ đến nay: Theo ông Hanh thì café là cà- phê, le café là nước cà- phê; thé là chè, le thé là nước chè.

Còn một điểm nữa mà vì ngày đó Tân còn nhỏ quá không nhớ rõ, là ông giáo Hanh khi đề ngày tháng thì chỉ những ngày đầu tháng ông mới chịu ghi thêm quán từ le; tỉ dụ: Lundi le 3 Janvier 19… Từ mùng mười trở đi ông bỏ quán từ le viện cớ rằng bên chữ nho- ông giáo thông cả chữ Nho - các cụ cũng chỉ dùng sơ cho những ngày đầu tháng thôi... tỉ dụ: Duy Hoàng nam Bảo Đại, Quý ùng sơ?

Học chữ Tây ông giáo Hanh được nửa năm thì thầy xin cho Tân vào học lớp năm trường làng.

Vào những năm lên sáu, lên bảy, lên tám này, trí nhớ của Tân ngày nay chỉ còn thôi thóp giữ được chút ít hình bóng kỷ niệm. Một điệu hát nữa Tây nữa Ta đượm tính chất bỡn cợt ngây ngô:

Mình ơi có đi bờ hồ

Ăn kem… ăn kem kẹo dừa, ăn bánh ga- tô.

Một điệu hát khác phổ biến hơn, đó là bài Tạ riễu người Tàu:

Ngộ bên Tàu là ngộ bên Tàu

Ngộ bên là ngộ mới sang

Sang Nam Việt bán buôn làm giàu.

Kèm theo bài Tạ này là tiếng đàn tàu, chiếc đàn tròn như đàn nguyệt nhưng cán ngắn; cũng vì giây ngắn hơn đàn nguyệt nên tiếng đàn trong và cao nghe lanh chang hời hợt như tiếng cười tiếng nói của đứa trẻ mới lớn chứ không thâm trầm chín chắn như tiếng đàn nguyệt.

Tiếng đàn bầu của chú Phan hàng xóm sao mà buồn! Chú bị tật khoằm chân từ thưở bé, cha mất sớm, mẹ nghèo. Phải chăng vì thế chú chọn đàn độc huyền để phổ tâm tình u buồn của chú vào đấy? Khi chú ngồi xếp vòng tròn gầy đờn thì không ai trông thấy tật chân của chú. Thụy, người con gái xinh xinh ở ngay phía sau nhà chú, đêm đêm xay lúa sảy gạo, khuya nghe tiếng đàn bầu của chú mà thổn thức cõi lòng.

Đàn bầu ai gẫy thì nghe

Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu.

Làm sao mà Thụy không nghe cho được? Tiếng đàn trong đêm khuya thanh vắng như rót vào tai. Thụy xinh như cánh hoa đào. Trong vườn nhà Thụy kế cận nhà Phan có cây đào, về cuối đông hoa nở đón xuân. Khi nghe tiếng đàn của Phan, Thụy buồn như cánh đào đọng ướt trong một ngày cuối đông có mưa phùn. Thụy thành thím Phan rồi suốt đời Thụy tận tụy hầu hạ Phan, hình ảnh Phan với Thụy là hình ảnh người ngồi xếp vòng tròn gảy đàn bầu chứ chẳng phải hình ảnh Phan lúc đứng dậy đi tập tễnh.

Trong số những bạn của thầy, Tân còn nhớ có ba bác: bác Ký, bác Từ và bác Thạc.

Thứ nhất là bác Ký, người phong tình, quần chúc bâu áo vải phin trắng nõn, bao giờ hai túi cũng nặng trĩu thư tình. Mỗi lần viết xong một bức thư mới, bác thường mang lại đọc bàn với thầy để sửa gọt từng câu chữ trước khi gửi đi, sau mỗi câu đắc ý hai người lại vỗ đùi cười ha hả. Mở đầu bức thư nào cũng bằng ba tiếng rất sang trọng: Thưa quý nương… rồi tiếp đến những câu văn biền ngẫu tề chỉnh thiết tha. Lăm ly nhất là sau mỗi tiếng: “Ôi!” lại có một câu tập Kiều. Tỷ như:

Thưa quý nương,

Từ ngày gặp quý nương tôi những đêm năm canh trằn trọc, ngày sáu khắc mơ màng ruột tằm trăm mối, đòi đoạn vò tơ!

Ôi!

Người đâu gặp làm chi

Trăm năm biết có duyên gì hay không?

Bỗng bác Ký bỏ làng đi đâu xa, hình như về một huyện nào thuộc tỉnh Hà Đông, rồi có tin bác Ký dính líu vào vụ cướp(!) và bị mang ra xử tại tòa Đại hình, rồi bị đầy đi Côn Đảo. Kỷ niệm thì đứt nối, đầu óc Tân hồi đó lại non nớt quá nên sau này mọi khi ôn lại kỷ niệm ngày nhỏ, nhớ đến bác Ký, Tân vẫn không hiểu duyên cớ gì đã khiến bác Ký chuyển hóa từ chàng thanh niên phong tình quần áo trắng nõn sang một tên ăn cướp rồi bị tù đầy. Sau cùng Tân ngờ rằng bác có tham gia hội kín, rồi hoặc bị tay sai của thực dân vu khống, hoặc người làng sợ vào săng-tan hỏa lò nên phải nói chệch ra như vậy.

Thứ hai tới bác Tử người cao, khuôn mặt xương xương, nước da trắng, râu rậm khi cạo nhẵn còn xanh om, trông bác có vẻ đẹp phong lưu sáng sủa của người trí thức ngày nay. Mà theo sự xét đoán của cậu bé Tân thì bác xứng đáng là trí thức lắm vì bác viết chữ nho rất đẹp, đọc truyện Kiều, Cung Oán, Chính Phụ, Bần- nữ- thán toàn bản chữ nôm. Câu chuyện của bác bao giờ cũng vui, một số nhân vật đặc biệt của làng đều được bác ghi nhận và tả lại bằng những nét điển hình đượm tính chất hài hước. Quả thực bác phải thông minh lắm mới có được những nhận xét tinh tế như vậy. Câu chuyện của bác hấp dẫn đến nỗi mỗi khi thấy bác đến chơi là Tân quanh quẩn ở nhà. Nhiều câu chuyện vui của bác nói với thầy, Tân không hiểu nghĩa nhưng thấy cả hai người cất tiếng cười khoái trá thì Tân cũng vui lây. Tân thích tiếng cười của bác Tử, tiếng cười sang sảng, ranh rách, lanh lảnh đượm chút kiêu kỳ của người hiểu đời, vẫn thích sống giữa đám nhân gian nhưng vẫn khinh thế ngạo vật. Hằng năm cứ vào gần tết mẹ lại mua một chục tờ giấy đỏ khổ rộng có đốm trăng kim, thầy mời bác Thử đến viết lại hoành phi câu đối thay những cái cũ. Bức hoành phi khung gỗ treo ở chính gian giữa có ba chữ “ ĐỨC LƯU QUANG” nét chữ đại tự rắn rỏi nhưng cũng cao và hơi gầy như bác Tử. Đôi câu đối dán hai bên cột tre ( dạo đó nhà Tân còn là nhà lá) nét chữ bay bướm hơn:

Phúc sinh phú quý bình an thịnh

Lộc tiến vinh hoan sự nghiệp hưng.

Mùa xuân năm Kỷ Tỵ( 1929) ( Tân lên bảy) thầy mẹ khởi công xây nhà gạch. Năm trước- năm Mậu Thìn- mẹ đã cho xây bề và lát sân, cả làng ai cũng khen mẹ buôn bán đảm. Ba chữ triện lớ "KỶ TỴ XUÂN” đắp bằng xi măng ở phía trước tường hoa trán mái cũng là do bác Tử viết rồi căn lên giấy dầu làm mẫu cho thợ nề đắp.

Vật đổi sao dời… bác Tử nghiện, rồi nghèo xơ xác, rồi ôi, thực chẳng ai ngờ, bác đi ăn trộm. Bác không dám đến chơi với thầy nữa, thỉnh thoảng Tân gặp bác ngoài đường, bác gầy quá, râu ria xồm xoàm, quần áo mỏng tanh rách mướp, dáng đi tơi tả, hèn mọn, đầu hơi cúi xuống để không nhìn ai và để mặc ai nhìn mình. Theo dư luận người làng thì sở dĩ bác “ xuống” thế vì cụ thân sinh ra bác ngày xưa là một nhà nho bất đắc chí xoay ra gá bạc làm bao nhiêu người làng thất cơ lỡ vận. Vì sự tích ông bố "chứa thổ đổ hồ” như vậy nên nay bác chịu nghiệp báo "đời cha ăn mặn đời con khát nước.” Về sau này khi Tân đã lớn, các con bác Tử cũng đều trở thành và làm ăn khá giả để phụng dưỡng bác tử tế. Đã có dạo bác cai được thuốc nghiện và người làng lại được dịp nghe giọng nói hài nước của bác chế người nãy riễu người nọ, nhưng thực tình giọng nói cũng như tiếng cười của bác không còn được sang sảng như xưa: Tuổi trẻ đã mất, sự hồn nhiên đã mất, bác còn đeo nặng những lỗi lầm của dĩ vãng! Cai được mấy năm rồi bác hút trở lại, bác mở một bàn đèn để thường xuyên tiếp các khách hút tài tử người làng hoặc người làm tổng, bác tiêm hầu lấy sái. Câu chuyện quanh bàn đèn của bác nghe đâu dí dỏm lắm và luôn luôn rộn tiếng cười nhưng ở đây là cả một thế giới khác, Tân chưa hề đặt chân tới để chứng kiến bao giờ.

Sau cùng là bác Thạc bác hiền nhất trong ba người. Bác có cửa hàng bán kẹo, bác rất yêu Tân và ngày bé Tân được bác "đắp” cho – lời mẹ- biết bao là kẹo bánh. Trong những cuộc họp mặt đông đủ cả bốn người (thầy và ba bác) câu chuyện của bác Thạc chắc chẳng có gì là đặc sắc cho nên tới nay khi nhớ đến bác, Tân không hề giữ được lời nào. Cùng một tai họa làm bác phá sản: nghiện! Vốn hiền lành nên vẻ tang thương của bác khi đã mắc nghiện trông càng hèn mọn. Tân còn nhớ một ngày đầu năm kia, bác mặc chiếc áo the thâm màu nước dưa đã sờn vai và rách khuỷu, bác đội chiếc khăn xếp chữ nhân bạc phếch cũ nát, bác lễ trước bàn thờ nhà Tân và khi ra về mẹ biếu bác một dộp (hai chiếc) bánh chưng. Tân buồn mãi vì thương bác. Về sau bác thành một người nhớ hết những ngày giỗ của người làng bất kỳ thân sơ; ngày đó bác mang vàng hương lại lễ rồi điềm nhiên ngồi đợi gia chủ mời vào mâm ăn. Báccòn sống mãi, lay lắt như vậy cho đến năm đói- 1945- thì chết.

Mỗi độ xuân về, gia đình Tân vẫn được vui xuân bằng "bánh chưng xanh thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ” thì ba bác đã lần lượt rơi vào cảnh tàn tạ nào tù đày nào nghiện ngập, Tân còn nhớ mang máng cảnh mẹ ngày đó lo sốt vó khi hay tin đến lượt bác Thạc nghiện, vì mẹ sợ thầy rồi cũng đến đua anh đua em mà rơi vào cảnh truy lạc nối.

Vụ án cụ Phan Bội Châu với những lời nói đanh thép nồng nàn tinh thần ái quốc của cụ trước toàn án có thể để lại tiếng vang trong trí óc non nớt của Tân. Mãi tới sau này cụ đã mất ở Huế rồi, Tân còn được nghe lời nói thiết tha của một bậc vào hàng cha chú: “ Bình sinh tôi chỉ ao ứơc thực hiện được hai điều, một là vào Huế yết kiến cụ Phan, hai là uống rượu thi ca với Tản Đà.” Trong khoảng thời gian này tiếng hát véo von tại làng thường là những câu ngâm ái quốc tỳ như bài "Tiễn Chân Anh Khoá” của Á Nam Trần Tuấn Khải:

Anh Khóa ơi, mẹ tiễn chân anh ra tận bên tầu,

Hai tay em đỡ cái khăn giầu em lấy đưa anh;

Tay cầm giầu giọt lệ chạy quanh,

Anh xơi một miếng cho bõ chút tình em nhớ thương.

Anh Khóa ơi, cái bước công danh ngoắt ngoéo đủ trăm đường.

Anh đi một bước, tấm gan vàng em sẻ làm đôi;

Kìa người ta bè bạn vui cười,

Anh em ta thương nhớ, chỉ ngậm ngùi mà đứng trông nhau.

Anh Khóa ơi, còi tu tu tầu sắp kéo cầu.

Đường trần em sắp sửa gánh sầu từ đây.

Trông anh, em chẳng nở dời tay.

Nỗi riêng em dặn câu này, anh chớ có quên.

Anh Khóa ơi, kìa người ta lắm bạc nhiều tiền,

Anh em ta phận kém duyên hèn mới phải long đong.

Một mình anh nay Bắc mai Đông,

Lấy ai trò chuyện cho khuây lòng lúc sớm khuya

………………………………….

Hoặc một vài câu trong bài “ Hải ngoại huyết thư” của Phan Bội Châu:

Ngày mong mỏi vía con ấm tử

Tối vui chơi mấy đứa hầy non.

Trang hoàng gác tía lầu son:

Đã hao mạch nước lại mòn xương dân.

Thời Tân còn nhỏ không bao giờ mẹ ôm Tân ru ngủ vì Tân có tật hễ cứ nghe tiếng ru là khóc thổn thức. Tân thấy tiếng hát ru đó ảo não quá! Thường thường đích thân thầy phải ôm Tân rồi vừa đưa võng vừa đập vào cột dọa đánh” con mèo này, con chuột này,” ấy thế thì Tân ngủ. Khi Tân đã thiu thiu thầy mới ngâm thơ( chứ không hát ru). Bài thầy vẩn ngâm mãi sau này Tân mới hay đó là một bài thơ ái quốc tiêu cự của Trần Tế Xương, bài "Nhớ bạn”:

Ta nhớ người xa cách núi sông,

Người xa xa có nhớ ta không?

Sao đương vui vẻ ra buồn bã,

Vừa mới quen nhau đã lạ lùng.

Lúc nhớ nhớ cùng trong mộng tưởng

Khi riêng, riêng cả đến tình chung.

Tương tư chẳng lọ là mưa gió

Một ngọn đèn xanh trống điểm thùng.

Sự hoạt động của liệt sĩ Nguyễn Thái Hoc và việc ông cùng mười hai đồng chí lên đoạn đầu đài Yên Bái có để lại một tiếng vang hoang đường. Ngày đó Tân, cậu bé lên tám, có nghe xì xào dư luận giữa đám người lớn: Nguyễn Thái Học có phép tành hình nên Tây không bắt được; rõ ràng một lần mật thám Tây đã cùm được tay ông nhốt vào ngục, rồi hôm sau vào kiểm soát thì chỉ còn thấy giây xích không; lại có tin đồn một lần Nguyễn Thái Học bị bắt, ông nói mấy lời cho tên cai nguc nghe, tên này ứa nước mắt khóc rồi ông tàng hình mất. vẫn dư luận trên kết luận: “ Cho nên nhất định Nguyễn Thái Học chưa chết, việc Tây xử trảm mười ba liệt sĩ tuy có nhưng nhất định sau đó Nguyễn Thái Học tái sinh.

II

Sau vụ mười ba liệt sĩ lên đoạn đầu đài (1930) “ sinh hoạt văn nghệ” của làng nghèo nàn lắm, tiếng ngâm sa mạc những bài ca ái quốc không còn. Chỉ còn tiếng đàn bầu ngày một não nuột của chú Phan, tiếng nhị réo rắt của bá Phấn và đặc biệt tiếng sáo vô cùng thê lương của câụ Vinh cùng tiếng hồ chao ôi là âm thầm của anh Pháo, đến mỗi người làng đã phải nức nở khen bằng câu thành ngữ: “ Hồ Pháo, sáo Vinh.” Về văn chương chỉ còn những câu đối vặt, những bài văn tế sáo, những bài vè chế riễu nông cạn. Cụ Tỉnh cùng xóm có tậu một khoảng vườn hoang. Cụ tậu khoảng vườn này để làm dành phần cho đứa con thứ hai. Đối diện với nhà cụ chỉ cách có con đường xóm, sát với thửa vườn đó là nhà Hương Chỉ, một người trạc ngoài tứ tuần, ương gàn và tham lam. Mỗi lần rào lại nhà, Hương chỉ lại lấn sang vườn cụ Tỉnh một ít. Cụ Tỉnh bèn viết hai vế câu đối chữ nôm lên tường đối diện với cửa ngõ nhà Hương Chỉ để bày tõ quan niệm triết lý nhân sinh của cụ đối với việc Hương Chỉ lấn đất.

Đất hỡi trời ơi sống tham đất

Giời soi đất xét chết giả trời.

Mỗi khi làng có ông già bà cả nằm xuống, người nhà thường đến xin bài văn tế tại nhà cụ huyện Từ- cụ đậu cử nhân rồi được bổ nhậm ngay tại huyện nhà- Từ Sơn. Tại chức chưa đầy một năm thì cụ cố mất, cụ treo ẩn từ quan về quê thọ tang và từ đấy thôi không ra làm quan nữa. Cụ có ba phòng: Cụ bà Cả hiền lành sinh được mấy cậu ấm cô chiêu cũng hiền lành. Cụ bà Hai đẹp đài các, biết làm thơ, cháu một vị Tam Nguyên, làng vẫn mệnh danh là “ bà huyện Thanh Quan" sinh hạ được một trai một gái đều đẹp và thông minh. Bà Ba trẻ hơn cả, dáng cao lớn, không đẹp nhưng chắc chắn hồi trẻ phải gợi tình lắm; mồm mép bẻo lẻo người làng gọi đùa là " bà lắm chuyện”, bà nổi tiếng khéo chiều chồng, một điều bẩm quan lớn, hai điều bẩm quan lớn. Bác Tử cười ranh rách nói riễu: “ Thấy quan lớn tiểu tiện chắc bà vội vã chạy lại xin nâng bàn thấm cho khỏi rớt!” Một hôm khác có đông đủ thầy và ba bác, nhân thoáng thấy bóng bà qua ngõ, bác Ký nói: “Kìa bà lắm chuyện vừa đi qua!” bác Tử ứng khẩu đọc bốn câu vè:

Chuyện ông huyện để g…ra,

Bà huyện tưởng quả cà vác bát lại xin.

Ông huyện vừa quát vừa rên:

Rằng đây cái g... của min đó mà.

Bác Thạc cười gập người lại, mặt đỏ như mào gà. Bác hiền lành ít nói nhưng khi thích chí thì cười thực tình.

Người làng vẫn đến xin bài văn quan huyện từ vì cụ là người trung hậu, bài văn chỉ cả ngợi công đức và bày tỏ lòng hiếu của con mong được đền ơn sinh thành( như chính cụ đã treo gương) chứ không hề dùng văn chương để móc máy gia chủ như mấy ông đồ bất đắc chỉ. Tân có ông cậu rất ham đi ả đào Khâm Thiên hay Ngã Tư Sở. Ông ngoại Tân mất đúng vào ngày ba mươi tết, phải quàn quan ván đợi đến mồng sáu tết mới phát tang mà làm ma linh đình. Ông cậu Tân có nhờ ông đồ Ba (gọi vậy vì ông đỗ tam trường) làm cho một đôi câu đối khóc cha. Vế đầu ông viết đại ý: hơn một ngày không ở kém một ngày không đi nên cha mất vào ngày tất niên; vế thứ hai ông hạ rất thâm thúy, Tân còn nhớ nguyên vẹn vế đó:

Xót xa lòng hiếu tử, đêm xuân trằn trọc trống năm canh.

Vừa có nghĩa tả lòng xót xa thương cha của người con hiếu, vừa có nghĩa là: “ người con hiếu” đó đã trằn trọc không ngủ được, sốt ruột vì tiếng trống (trống cô đầu) rộn rã suốt đêm xuân.

Đáo để nhất trong số các nhà nho bất đắt chí phải kể đến ông tú Mền (ông đỗ ba lần tú tài), không ai dám đến xin ông câu đối hay hoành phi. Ông hay chữ và nguy hiểm đến có thể xếp cùng hạng với các bậc bất hủ Trạng Quỳnh, Tú Xuất ngày xưa; tỷ như chỉ cần cho hai chữ hoành phi "Đại Lại” là đủ đánh gia chủ một đòn chí tử về tinh thần; rõ ràng hai chữ hoành phi đó là ca ngợi họ Lại lớn nhưng lại ngầm móc ông tổ ba đời nhà họ Lại làm nghề lái lợn (Đại Lại= Lớn Lại= Lái Lợn). người hiền nhất trong số các nhà nho làng Lại Vũ là ông Đồ Thinh, ông chỉ thích kim Dịch và xem tử vi, ông hiếm hoi có một cậu con trai tên là Chủy mà số tử vi lại không được tốt lắm cho nên ông hơi buồn. Chúng ta sẽ có dịp gặp lại ông đồ Thinh và Chủy sau này.

Ấy đại loại không khí văn nghệ làng Lại Vũ từ sau vụ mười ba liệt sĩ lên máy chém ở Yên Báy để nợ nước là như vậy:” Tiếng sáo véo von, tiếng nhị réo rắt, tiếng hò tiếng đàn bầu buồn thảm, câu đối, thơ, vè nói móc nhau…”

III

Để bế mạc cho một thời thơ ấu tưởng phải kể thêm một kỷ niệm sau này của Tân. Ngày đó vào trung tuần tháng ba năm Tân Mùi- 1931- Tân bước sang tuổi lên chín, chùa làng đúc chuông xong mở hội khánh thành. Khách thập phương về đông như kiến cỏ vì câu nói của miệng thời đó:” Thành Hoàng đình Tông, Đức Ông Chùa Lại.” ( Thành Hoàng đinh làng Tông Chỉ và đức ông chùa làng Lại Vũ có tiếng là thiêng). Nhân dịp hội chùa này mẹ có mở một ngôi hành giải khát ở ngay gian giữa tam quan chùa, ngày đầu mẹ cho Tân uống một thứ nước trong vắt khi mở ra rót vào ly có sùi bọt, uống vào thấy tê tê đầu lưỡi, mẹ gọi là nước chanh. Buổi tối có hát tuồng, dân làng dựng rạp giữa bãi cỏ phía bên tam quan. Ông lý trưởng làng Lại Vũ là một tay sành tuồng, đáng trống chầu hay, đích thân đi tới làng Phùng cách làng nhà chừng hai mươi cây số đón bằng được Phùng về. Trùm phường Phùng là kép Chí có tài đặc biệt đóng Quan Công. Tân nghe nói mỗi lần đóng Quan Công, y phải xin âm dương trước. Rồi suốt buổi tuồng, trong buồng trò, trên bàn thờ mới thiết lập có treo tranh Quan Công, phải hương nến thường xuyên. Để anh linh đức Thánh Quan khỏi nổi giận, trùm Chí phải hóa trang khác đi chút ít với khuôn mặt của Ngài xưa bằng cách kẻ thêm mấy đường đen trên khoảng mặt đã bôi son đỏ.

Tối hôm đó Tân được xem tích Hoa Dung tiểu lộ. Danh bất hư truyền! Kép Chí người cao lớn, giọng vàng sang sảng đóng vai Quan Công thật tuyệt. Trước khi Quan Công ra, tất cả khán giả có tới hàng trăm người ngồi hoặc đứng im phăng phắc nghe thấy tiếng tim hồi hộp của mình cùng tiếng muỗi vo ve trên ngọn cỏ gần đấy. Thoạt là một hồi trống chiêng rãi rệ rồi đỗ rồn. Rồi màn trò hé lên vừa đủ cho Quan Cọng ra, mặt đỏ râu dài, trước trán giản dị là một vòng đai lấp lánh để giữ vuông khăn xanh trùm đầu và tỏa xuống che kín khoảng lưng vai. Mỗi bước khoan thai đĩnh đạc của Quan Công là tiếng trống kèm theo tiếng chiêng điểm nhịp tưởng chừng trái đất rung chuyển dưới bước chân cương nghị của Ngài. Không khí uy nghi như thiện đình, đai mũ và áo bào của Ngài như đè nặng lẹn cảm giác của khán giả. Tiếng chuông trống vừa dứt tiếng Ngài thét, giọng vàng sang sảng ngân dài. Tiếng thét dứt, Ngài hất chòm râu về phía sau đôi mắt long lanh một niềm uy vũ bất khuất…

Rồi Ngài bắt sống được Tào Tháo ở đường hẻm Hoa Dung. Trông thằng Tào Tháo quỳ mọp dưới chân Ngài đến là hèn, nó kể lể công nó thù phụng Ngài thủa thất thủ Hạ Bì trước đây, ba ngày yến nhỏ năm ngày yến lớn, biếu Ngài ngựa xích thố, lại may túi gấm đựng râu Ngài…

Rồi Ngài nhân từ tha Tào Tháo….

Rồi Ngài bị Gia Cát Lượng đòi chiếu theo quân pháp chém đầu.

Rồi Trương Phi kể lể cùng đại ca Lưu Huyền Đức công nằm gai nếm mật của Ngài trải gian nguy từ thưở đào viên kết nghĩa…

Rồi Ngài được tha…

Tân sung sướng thở phào khoan khoái tưởng chừng chính Tân vừa thoát khỏi từ hình. Một tình cảm kính mến uy nghi tràn lên dâng ngập hồn thơ ấu của Tân.

Tấn tuồng trang nghiêm hết, sang phần chèo cổ hý lộng để kết thúc đêm vui. Đó là một tấn chèo riễu anh nhà quê ngớ ngẩn bị lừa dối, rồi cả hai đem nhau đến cửa quan. Ông quan liêm chính này cho đào hố gần gốc câu mai cổ thụ, một người lần xuống đó, ộng qua vờ tra tấn gốc cây khiến cây thốt lên lời tố cáo người vợ…

Anh chồng thật là một tên hề đại tài. Anh có hai râu mép quặp xuống (vẽ bằng mực). Anh quấn khăn đầu rìu, áo cài lẫn khuyết, quần ống thấp ống cao, anh cất lời nói là khán giả cười rộ, khi anh bị vợ lừa dối cất tiếng than, khán giả tuy thương mà vẫn không nín được cười.

Tan chèo, trên đường về Thầy nói với Mẹ:

- Thằng cha trùm Chí đóng giỏi thật, vai nào cũng tuyệt.

- Vai anh chồng ai đống đấy hở Thầy?- Tân hỏi.

- Trùm Chí chứ còn ai!- Thầy đáp.

Ủa trùm Chí- Tân nghĩ- Trùm Chí vừa đóng vai Quan Công mặt đỏ râu dài uy nghi chính khi?! Không có lẽ, không thể được, làm sao có thể thế được?! Một người vừa mới một giờ trước đây cất từng bước đĩnh đạc có tiếng chuông tiếng trống điểm nhịp làm lóng lánh những trân châu trên đai mũ trên áo bào, tiếng thét uy vũ làm run sợ Tào A Man, thanh long đao múa lên làm địch quân chạy rạt, kể cả khi Ngài đứng yên giữ thế vuốt râu địch quân cũng không dám lại gần, cũng người đó làm sao có thể chỉ một giờ sau thành anh hề râu quặc đen như nhọ nồi run cầm cập dưới sự xỉa xói của cô vợ đanh ác, nhớn nhác khi đến cửa công. Không thể được! Làm sao có thể thế được! Tân thao thức, Tân băn khoăn, Tân chợp ngủ nhưng lòng vẫn chối nhận việc trùm Chí vừa đóng vai Quan Công uy nghi ở tuồng trướ lại đóng vai anh chồng ngớ ngẩn ở vở chèo sau. Không thể được! Làm sao có thể thế được! Trí non nớt của Tân ngày đó cho rằng khi đóng tuồng nhân cách của con người đóng với nhân cách vai tuồng phải vĩnh viễn là một. Đã đóng Quan Công thì cũng phải có đức tính trung nghĩa như Quan Công và không thể ngay sau đó đóng vai anh hề sợ vợ được.

Sau này vào năm thi bằng cơ thủy- năm mười bốn tuổi- Tân được đọc một chuyện cổ tích Ba Tư ở sách “ Tứ Dân Văn Uyển.” Chuyện đọc đã lâu ngày, đại ý Tân chỉ còn nhớ loáng thoáng:

“ Có một cô vợ rất đẹp kia lừa chồng, nàng có tình nhân. Một hôm nàng ra chợ, từ vua quan đến thường dân ai cũng muốn bắt nhân tình với nàng. Nàng vờ ưng thuận hẹn ngày giờ gặp mặt, ở ngay nhà nàng. Qua cửa hàng thợ mộc anh này cũng muốn bắt nhân tình với nàng nốt. Nàng bèn nhờ y đóng cho một cái tủ có năm ngăn lớn rồi cùng hẹn y ngày giờ đến nhà nàng. ( Tất cả có năm người muốn hưởng thụ ngàng, kể cả anh phó mộc). Chiếc tủ lớn được đóng xong kịp thời kê vào góc phòng, những kẻ thèm khát ái tình kia lần lượt đến đúng với ngày giờ quy định, nhưng rồi họ chưa kịp hưởng thụ gì đã kẻ trước người sau phải lần lượt ẩn mình vào một ngăn kép lớn vì cứ mỗi lần nghe tiếng gõ cửa, người vợ lại làm bộ cuống quít là chồng về. Sau khi năm người tình bất đắc chí đã nằm im thin thít trong năm ngăn kéo của chiếc tủ khổng lồ thì tình nhân nàng đến, đôi uyên ương đó chắp cánh tung trời bay đi xa… Ở lại trong tủ thoạt người trên cùng đái lên đầu quan đại thần, quan đại thần đái lên đầu anh thợ mộc, anh thợ mộc đái lên đầu vu, vân…vân…Tóm lại trong số năm người thì bốn người đái lên đầu nhau. Rồi anh chồng về, mở khóa ngăn kéo cho năm người ra…

“ Khi ai nấy đã rõ chuyện thấp mưu thua trí đàn bà- lời tác giả Ba Tư kết luận câu chuyện cổ tích- nhà vua bèn an ủi chồng mất vợ bằng cách ban cho ông bổng lộc và quan tước để anh cùng nhà vua và quan đại thần chung lưng sát cánh trị dân mặc dầu các ông trị mình cũng không nổi.”

Đọc xong câu chuyện cổ tích Ba Tư này Tân bỗng liên tưởng đến trùm Chí trong vở chèo sợ vợ. Tội nghiệp, cho mãi đến sau này đã chứng kiến bao cảnh phế hưng với những vai hề chánh trị mà mỗi khi nhớ lại tấn tuồng Hoa Dung Tiểu Lộ, trong cõi sâu tâm tưởng Tân vẫn muốn phủ nhận vai hề kia và cứ muốn đinh ninh rằng đêm đó trùm Chí chỉ đóng có vai Quan Công.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 24.06.2015, 11:14
Hình đại diện của thành viên
Cựu Editor Diễn Đàn
Cựu Editor Diễn Đàn
 
Ngày tham gia: 17.03.2014, 16:15
Tuổi: 25 Chưa rõ
Bài viết: 1833
Được thanks: 10945 lần
Điểm: 10.48
Có bài mới Re: [Sưu tầm] Ba sinh hương lửa - Doãn Quốc Sỹ - Điểm: 10
Chương 2: CÁCH NHAU NGÀN VẠN DẶM
Tân học hết lớp ba tại trường làng, theo lên trường huyện học tiếp lớp nhì lớp nhất rồi dời quê xuôi Hà Nội học đến nửa năm thứ hai ban thành chung thì thầy ốm nặng; mẹ bỏ buôn bỏ bán thuốc thang cho thầy ngót nửa năm dòng siểng liềng gia tài mà thầy cũng không qua khỏi. Khi thầy đã nằm xuống, chị Khanh- chị Tân hai mươi nốt tuổi, về nhà chồng đã được hơn một năm, bị sẩy thai rồi cũng mất. Rõ thực phút bất trùng lai họa vô đơn chí! Tân phải bỏ học vì việc buôn bán của mẹ theo vận áo xám gặp nhiều thua lỗ và gia đình bắt đầu mang công mắc nợ. Năm đó-1939- Tân mười bảy tuổi cuộc đại chiến thứ hai cũng vừa bùng nổ.

Thôi học về quê vào đúng mùa nước lên, Tân họp với một số thiếu niên cùng làng cùng lứa tuổi ngày ngày mang vó ra sông đánh cá, chiều chiều mang đó ra đồng chọn luồng nước mà đặt đó đơm cá, hôm sau dậy thật sớm ra nhấc nó lên, bên trong đã đầy cả rô, trê trạch, nhiều khi cả lươn nữa. Đoàn thiếu niên khi đi đặt đó như vậy thường cao giọng hát bài đồng dao:

Giời mưa giời gió

Vác đó đi đơm

Về nhà ăn cơm

Trở ra mất đó.

Được cái đó của bọn nào đặt đâu vẫn nguyên đấy chưa lần nào gặp chuyện sớm hôm sau ra mất đó.

Trong đám thiếu niên cùng làng có Hoạt đồng niên với Tân. Hoạt có có vóc người lực lưỡng, mớ tóc dày, lông mày rậm, khuôn mặt vuông, nước da bánh mật. Hoạt công tác với Tân thành một cặp trong việc đánh cá. Sức lực hung hãn của Hoạt hợp với trí thông minh của Tân đã giúp cho cả hai bao giờ cũng thắng cuộc tranh đua với những cặp trẻ khác.

Thoại việc Tân về làng chỉ có nghĩa giản dị là vì nhà sa sút không đủ tiền cho Tân được ở lại Hà Nội theo học nữa và việc mấy hôm đầu Tân cùng các bạn cùng lứa tuổi đi đánh cũng chỉ có tính cách tài tử như một cậu học trò nhân vụ hè về làng, rồi vì ưu hoạt động mà nhào vào nếp sống của người làng để vừa giải trí vừa hòa đồng. Nhưng một tuần qua đi số cá kiếm được khá nhiều, ăn thừa thải còn đem bán, làm mẹ đâm suy nghĩ. Nửa tháng sau Tân thấy mình cùng Hoạt là hai đứa trẻ sinh sống về nghề đánh cá. Việc buôn bán của mẹ càng sa vào thế bí, nhất là ngày chị Khanh bị sẩy rồi mất theo thầy. Cứ quan sát vẻ nhìn của mẹ thì biết người áy náy biết chừng nào. Mấy lần mẹ có ý bảo Tân ngừng đừng đi đánh cá nữa nhưng không được, Tân đã quá thân với Hoạt.

Hai tháng qua, mùa nước hết. Làng bắt đầu làm vụ chiêm, tình thân của tuổi trẻ càng thắm thiết giữa Tân và Hoạt. Hình như Hoạt có lây của Tân được thêm chút thông minh tài tháo vát. Nhưng đôi bạn không còn được xum họp. Nhà Tân mới sa sút, nghèo mà còn ở nhà ngói, trái lại với Hoạt vốn sinh ra đã là con nhà nghèo việc học không quá cấp sơ học. Mùa nước hết, trong khi dân làng sửa soạn vụ chiêm, Hoạt theo một người bà con xuôi Hà Nội kiếm được chăn “ét” tài xế trên con đường Hà Nội Nam Định. Hoạt đi, Tân ở lại hợp tác với ông chú họ là một tay đánh cá chuyên nghiệp mà dân làng Lại Vũ vẫn quen gọi là ông Tây. Ông quả thực là… ông Tây thực, người cao, da đỏ hồng, mũi lõ, hai tròng mắt xanh, giọng nói ồ ề ngô nghê. Bà cụ thân sinh ra ông nhủ danh là Điệt đúng với câu "thiên địa phong trần, hồng nhan đa truân.” Năm Giáp Thân (1884) quân Pháp từ sông Hồng vào sông Đuống rồi nhập với cánh quân thứ hai của chúng vừa đổ bộ lên Phả Lại cùng tiến đánh Bắc Ninh, quân Cờ Đen phải rút lên mạn Thái Nguyên; đúng vào cái năm ấy cô Điệt vừa mười sáu xuân xanh và đúng vào ngày giặc cờ đen rút lên Thái Nguyên thì cô bị một tên tướng Tàu hiếp trên cánh đồng làng. Bốn năm sau cô đành phải lấy lẽ thứ tư ông Đề Bách; cô vừa hai mươi tuổi, xinh tươi mơn mớn, ông Đề thì đã trên năm mươi lại mấy lần mắc bệnh phong tình không thể có con được nữa. Năm cô Điệt ba mươi tuổi, vào một buổi trưa cô đi chợ về gặp một đội binh Pháp tập trận giả tại đồng làng, một tên lần theo bờ gò đón chặn và hiếp cô trong bụi. Cô về có mang và sinh ra cậu con giai đầu lòng tóc đỏ mắt xanh; ông Đề không nhận, đuổi hai mẹ con về bên ngoại, nhưng ông cũng làm ngơ cho đứa trẻ được mang họ ông, họ Vũ. Khi ông Đề mất đi, các anh em thúc bá thương tình bà Tư- cô Điệt- lại gọi về gia nhập với đại gia đình họ Vũ, lúc đó gia thế ông Đề cũng đã sa sút đi nhiều lắm rồi. Khi Tây- không hiểu ai đã đặt tên này- tới tuổi trưởng thành thì gia cơ điền sản của ông Đề cũng khánh tận. Mẹ vừa khuất núi, Tây bứt ra ở một cái lều chính tự tay Tây dựng lên ngoài bãi ven làng và sinh sống bằng nghề đánh cá từ đấy. Ông con cả cụ Đề Bách vào ngày đó bị mật thám Tây bắt tình nghi giải tới hỏa lò Hà Nội, một tên tây lai đã hỏi cung tra tấn ông.

Khi được tha về, ông nhìn Tây sống nghèo hèn và hiền lành mà cảm mến. Ông nghĩ chỉ cần thằng lính tây xưa biết và nhận con, là Tây lập tức có một nếp sống, một địa vị của con dân mẫu quốc và biết đâu Tây chẳng vào làm trong mật thám gia nhập đoàn nhân viên hỏi cung hách dịch và tra tấn tàn ác? May thay- ông nghĩ thế- Tây đã sống nghèo hèn nhưng hiền lành theo nếp sống Việt trong lũy tre xanh.

Sau này chính ông đã đứng ra giạm hỏi và cưới xin cho Tây một cô gái nghèo trong làng, ý ông muốn hoàn toàn đồng hóa dòng máu lai trong người Tây. Hình như việc có thêm người đàn bà vào sống trong lều cũng không là một biến cố quan trọng cho lắm đối với Tây, nếp sống của Tây vẫn phẳng lặng với nghề đánh cá thức khuya dậy sớm, ngày đánh cá, tối câu đêm. Giọng nói của Tây suốt đời đành là cứ ồ ề, ngô nghê như vậy, tính tình cực kỳ hiền lành. Mãi đến năm năm sau Tây mới có đứa con giai đầu lòng đặt tên là thằng Phiệt mắt đen, tóc đen, mũi dọc dừa, nước da bánh mật- nước da của mẹ- Phiệt đã hoàn toàn hoà lẫn với giòng giống Việt. Ông con trưởng cụ Đề Bách hẳn bằng lòng lắm! vai vế trong họ, Tây vào bậc chú Tân. Năm Tân bỏ học về làng đánh cá với Hoạt rồi hợp tác với chú Tây thì thằng Phiệt đã lên sáu. Phiệt có theo học A, B, C ở trường làng, nhưng tan học là ba chân bốn cẳng nó chạy về quăng sách ở giường rồi đi tìm bố ở ngoài đồng ngay. Nó ưa lẻo đẻo theo sau bố để xách giỏ, xách mồi hoặc một vài đồ nghề khác. Khi Tân hợp tác với chú Tây, Tân mến Phiệt ngay. Phiệt ra chiều cũng nặng cảm tình với Tân mà nó gọi là “ anh Tân” với tất cả vẻ thành kính vừa đơn giản vừa thơ ngây của nó. (Tân thật có ngờ đâu rồi đây, còn lâu,… lâu lắm, Tân sẽ có dịp sát cánh với Phiệt trên con đường vào sinh ra tử). Chính vào dịp hợp tác này, Tân mới được ông chú thủ thỉ truyền cho hết bí quyết đánh cá. Giọng ồ ề đơn giản và hiền lành của ông dẫn Tân vào thế giới của cá như bà dẫn cháu vào thế giới cổ tích. Mùa cá đẻ trứng vào tháng tư; ruộng lúa khi đó chưa gặt hoặc đã gặt rồi chỉ còn chân rạ; đặc tính cá đẻ rất dạn người, chúng cắn đuôi nhau đi hàng đàn từ sông vào ruộng. Thôi thì đủ các loại cá: cá nheo, cá ngạnh, cá diếc, cá trạch (có những con lớn bằng cố tay), cá chép (có con dài tới bảy mươi phân, bề ngang một gang tay người lớn). Tháng tư vào những ngày mưa, nước sông lên, cá theo con nước cắn đuôi nhau vào ruộng đẻ, khi nước rút chúng lại trở ra sông, đó là lúc gần trọn đàn chúng đã vào rước- một thứ bẫy cá- của chú Tây. Bao giờ- theo lời chú - chúng cũng thoát đi được một số; có khi không may cho chú đúng vào lúc chúng rút ra sông, trời tiếp một cơn mưa lớn khiến chúng thoát trọn đàn. Chú Tây cho đó là trời muốn vậy, vì có thế mới năm này sang năm khác còn cá cho chú đánh. Vào những ngày không mưa chú đánh cá bằng rập, một thứ vó vuông và khá lớn có thể úp được trọn đàn sộp. Chú kể cá sộp tinh lắm, chú từng nằm trên bờ rập hành giờ (có phủ lá để ngụy trang cho cá không thấy) theo dõi đàn sộp nhởn nhơ sát bờ rập mà không chịu vào, đôi khi con đầu đàn quay mình lại cho một phần đuôi vào trước để dò xét địch tình rồi lại vùng ra lạch nhởn nhơ tựa hồ để trêu tức chơi. Cứ như vậy cho đến một phút nào đó nó chợt lao mình như một đường tên vút từ lạch vào khoảng nước rộng và sâu ngay dưới tầm rập; cả đàn sộp cũng vội ùa theo như sợ mất chủ, rập ụp xuống như máy, một vài con may thoát ra ngoài nhảy tơn trên mặt nước, quẫy tắt ra phía sông, những con bị úp dưới rập vùn vẫy một cách tuyệt vọng đục ngầu cả khoảng nước. Có những mẻ sộp lớn làm rách rập, buổi tối hôm đó chú Tây phải ngồi vá lại dưới ánh đèn dầu lạc trong lều, hoặc dưới ánh trăng. Câu cá chuối tuy dễ mà khó vì phải hiểu tâm lý cá. Cá chuối rất thương con, nó thường dắt đàn con đi vào chổ ngòi nông loi thoi ngọn cỏ, nước nữa trong nữa đục để kiếm ăn. Đàn chuối con khi đó chỉ lớn như những con đòng đòng, tung tăng bơi lội, mổ vào những ngọn cỏ, đớp những bọt nước hoặc tròng ghẹo nhau. Chuối mẹ lặn dưới đáy ngòi đâu đó, canh chừng đàn con. Chú Tây chỉ cho Tân cách quan sát biết chắc chuối mẹ ở đâu. Ngọn cỏ là là mặt nước kia không có gió mà khe khẽ lung lay, chính là chuối mẹ lờn vờn bên dưới đó. “ Cá chuối chết đuối vì con,” bây giờ chỉ việc bắt một con sin tít sống, mắc lưới câu vào ngang thân, đợi lúc đàn con bơi gần chỗ mẹ, thả lưỡi câu xuống cho con sin sít quẫy mạnh, lập tức sộp mẹ ghen con, vùng lên đốp mồi và mắc lưỡi.

Hằng năm vào tháng tám nước sông cạn, dân đánh cá chuyên nghiệp của làng Lại Vũ thường hẹn nhau tập họp ở quãng sông nông nhất rồi dăng dài thành hàng ngang, tay mỗi người cầm một chiếc nơm, có khi nơm úp được con cực lớn, cần người phụ lục lặn xuống. Bắt loại cá này hai tay giữ chặt chưa đủ, bí quyết phải lập tức bóp mắt nó, như vậy nó mới hết quẫy để hòng thoát thân. Nghệ thuật lặn xuống để bắt cá lớn này, làng Lại Vũ chưa ai qua mặt được chú Tây. Tiếng kêu hốt hoảng giữa dòng sông thường bao giờ cũng là ‘’Bác Tây ơi, giúp tôi một tay đây! ‘’Nếu con cá lớn đó để ở nhà ăn thì mặc nhiên khúc giữa bao giờ cũng dành biếu bác Tây, tục lệ của dân chài lưới làng Lại Vũ là như vậy. Trong những câu hát của dân chài thưở đó có một câu Tân còn nhớ mãi về sau này”

Người ta câu biển câu sông

Tôi đây cây lấy con ông cháu bà.

Mộng san bằng giai cấp của họ cũng chỉ thể hiện trong lời bài hát bông đùa thế thôi, thực tình họ có đời sống riêng mà họ ưa thích còn hơn cả việc câu được ‘’con ông cháu bà.”

Hợp tác với chú Tây được ngót một tháng, bấy giờ vào cuối tháng bảy, thì mẹ kéo Tân về để giúp người trong việc buôn bán. Thế là bỏ học, Tân thực thụ lăn lưng vào cuộc đời từ năm mười bảy tuổi. Thoạt Tân đi theo mẹ để giúp đỡ người trong việc cất hàng loại xa xỉ ở Hà Nội mang về các tỉnh nhỏ bán buôn, rồi lại buôn các phẩm vật địa phương mang về Hà Nội. Sau một chuyến hàng cuối năm, về tới đầu làng, Tân giật mình hay tin chú Tây đã mất, tội nghiệp chú bị chết lạnh, chú không đủ áo ấm vào mùa đông này. Phiệt được ông bác hiếm hoi- ông con trưởng cụ đề Bách- mang về nuôi, ông không có con trai và rất ưng Phiệt sẽ thừa tự sau này mặc dầu của hương hỏa của ông cũng chẳng còn gì ngoài chiếc nhà ngói ba gian hai trái đã ọp ẹp lắm.

Sau hai năm ngược xuôi giúp mẹ, Tân đã thành thạo, chàng khuyên mẹ ở nhà để một mình chàng đảm đương công việc. Chiến tranh làm hàng ngoại hóa khan hiếm nên viêc buôn đi bán lại đó giúp Tân trả dần được công nợ cho mẹ. Dầu hỏa đã trở thành một thượng đẳng xa xỉ phẩm, khắp miền quê đã dùng thay bằng dầu lạc, nhiều nơi dùng kèm một thứ nến bằng lá tẩm nhựa thông. Tân thuê thuyền theo các đường sông máng lớn nhỏ chuyên chở hai thứ này (dầu lạc, nền-nhựa-thông) vào sâu các vùng hẻo lánh. Quân Nhật đã đặt chân lên toàn lãnh thổ Đông Dương, người Pháp đã mất nước vào tay người Đức. Tuy nhiên Toàn quyền C, vẩn còn chút quyền hành ở đây đủ để đại diện cho nền văn minh thực dân cấp bằng phát minh cho một số người ‘’bản xứ” đã sáng chế ra được thứ đèn đầu lạc với hệ thống bánh xe răng cưa nhỏ có thể khêu bấc đèn cao thấp tùy ý. Nhân việc này một nhà ái quốc tiêu cực làng Lại Vũ đã lấy một câu Kiều để mỉa mai:

Phát minh sáng chế nhà ta

Đã buồn cả rượt lại dơ cả đời.

Mà ‘’đã buồn cả ruột lại dơ cả đời” thật? Người Việt được chứng kiến những tiến bộ của Nhật trên mọi ngành kinh tế chính trị, quân sự, nghệ thuật…. Trông người Nhật hùng mạnh uy hiếp được thực dân da trắng, được xem phim thời sự Nhật để biết những hoạt động mọi ngành kỹ thuật nghệ nặng nhẹ của Nhật, được xem phim Nhật để biết tài năng diễn xuất của tài tử Nhật, người Việt thấy buồn tủi cho số phận mình. Rồi từ buồn tủi chuyển sang hờn giận vì luôn luôn được tin quân đội Nhật bắt bớ, tra tấn, đâm chém người Việt, tàn ác có phần hơn thực dân Pháp xưa. Có tin một người bán cám cho quân Nhật để chúng nấu cháo cho ngựa; người bán cám vì nghèo nên tìm cách trộn lẫn với mạt cưa mong kiếm thêm chút lợi, chẳng may ngựa Nhật bị chết, quân Nhật bèn mổ bụng ngựa nhồi người bán cám vào trong mà khâu lại trừng trị. Văn minh xứ mặt trời mọc, học trò ưu tú của Tây phương đã coi mạng người Việt không quý bằng mạng con ngựa của họ! vẫn nhà ái quốc tiêu cực làng Lại Vũ trên có ứng khẩu bốn câu tứ tuyệt như sau:

Việt tộc những mong người Á trước,

Da vàng máu đỏ hỡi ai ơi.

Cha lũ giant tham phường cướp nước,

Văn minh coi ngựa quý hơn người!

Quả có thế, một sự thất vọng chua chát không nói sao cho xiết được đối với những người Việt vì quá giàu tình cảm nhân đạo nên mới quá ngây thơ trên chính trường mà tin vào thuyết Đại Đông- Á của quân phiệt Nhật.

Tại các thành thị lớn dân chúng đã quen nghe còi báo động là chạy ra hầm trú ẩn gần nhất. các trường học ở thủ đô tản cư về vùng quê hay vào tận Sầm Sơn hoặc lên tít Tam Đảo.

Dưới hai lần xiềng xích Pháp- Nhật giờ đây người dân Việt ngây thơ nhất cũng đã hiểu trên bước đường dành tự chủ, mình chỉ có thể trông cậy vào chính mình. Và trong khi còn phải đợi thời, một số lớn bí mật tham gia các tổ chức cách mạng, số còn lại lạnh lùng nhìn bầy sói đế quốc cấu xé nhau. Riêng Tân vì đi sâu vào các miền quê để buôn bán nên vẫn giữ được tâm hồn thanh thản. Mùa cam, Tân lên tận Bố Hạ; mùa dứa, Tân lên tận các đồn điền miền Bắc Phú Thọ; mùa lê, Tân lên tận Lạng Sơn. Những hàng đó tiện đường thì chở bằng xe lửa hoặc ô tô nếu không thì bằng thuyền. Tháng sáu năm 1942 Tân về tận Phủ Sóc (Thái Bình) đong gạo chiêm chở ngược Hà Nội bán. Ba tháng sau- tháng chín- Tân lên một đồn điền ven sông Thao, thuộc Hưng Hóa cắt được năm thuyền dứa. Buổi sáng hôm đó, trước khi xuống thuyền, người quản lý đồn điền mời chàng uống một ly sữa tươi. Đó là một buổi sáng hồng nhưng mát rợi vì tiết trời đã vào giữa thu. Gió sớm từ phía sông lùa về gờn gợn. Uống xong ly sữa có ánh hồng bình minh, giữa một khung cảnh có rừng rậm, núi cao, song rộng. Tân thấy rùng mình, cõi lòng tự nhiên phơi phới. Đó là năm Tân vừa hai mươi tuổi.

II

Về Hà Nội bán hết chuyến dứa, Tân dự định đi Yên Báy rồi Lào Kay buôn một chuyến măng, nấm hương, mộc nhĩ đầu tiên. Nhờ các bạn buôn giới thiệu, Tân mang theo một số hàng xa xỉ xuống bán tại ga Thanh Ba là nơi được giá nhất. Tới nơi, hàng của Tân đã được rỡ xuống, chuyến tàu xuôi từ Lào Kay vừa về tới. Biết là chuyến tàu này còn dừng lại ở Thanh Ba ít ra là năm phút, tiện thấy toa hạng ba dừng ngay trước mặt, Tân nhảy lên đi một lượt ngắm thiên hạ cho thoải mái và đỡ cuồng cẳng. Chàng bỗng dừng lại trước hàng ghế cuối toa, tay vịn vào thành cửa: trước mặt chàng là một cô gái trạc tuổi mười sáu mười bảy, ngồi bên một bà đã đứng tuổi, Tân đoán là mẹ nàng. Người con gái có một vẻ đẹp thật quý phái, vừa tươi sáng vừa hiền hậu. Quần áo nàng mặc đồng màu lụa trắng càng làm tôn vẻ dịu dàng của đôi mắt đen thơ ngây và nước da trắng mát. Nhan sắc đó càng như được tăng lên bội phần giữa những khuôn mặt già nua khắc khổ trong toa xe giữa cảnh đồi nương chập chùng bắt đầu man rợ của miền trung du dương chuyển mình vào thượng du này. Còn Tân với bộ quần áo đương mặc lẽ cố nhiên chàng chẳng có vẻ gì là sang trọng, nhưng dáng chàng cao, thân hình chắc lẳn, tuổi trẻ ấy, sức dẻo dai ấy, thêm nước da dạn dầy sướng gió ấy tự nhiên gây được uy tín cho Tân và bộ quần áo nhàu nát chàng mặc chỉ khiến chàng có thêm vẻ đẹp phong trần của một thanh niên sớm lăn lộn với đời. Người con gái càng vàng lá ngọc kia- Tân tin rằng nàng thuộc giòng dõi quí phái- hẳn muốn được gieo mình vào đôi cánh tay cứng cáp của những người đã xông pha nhiều gió bụi. Tân hơi mỉm cười khi thấy khuôn mặt đẹp đó ngẩng nhìn chàng, e dè nhưng đầy thiện cảm và tưởng chừng nàng đã đọc được ý nghỉ thầm kín của mình. Nàng trong trắng như màu lụa bạch nàng mặc và Tân bỗng có cả tưởng như mình là một hiệp sĩ đời xưa càng xông pha nhiều mưa gió càng thêm vẻ phong lưu mã thượng.

Tiếng còi thét vang mà không làm xao động giấc mơ yêu đương Tân dệt thầm trong trí. Tiếng ống khói phụt nặng nề con tàu chuyển bánh. Khi tàu đã bắt đầu có đà Tân còn nhìn nàng một lần cuối rồi mới nhảy xuống.

“Nước da trắng mát, một nốt ruồi đen trên gò má bên trái trông quả có đẹp!”- Tân tự nhủ thầm như vậy.

Đêm hôm đó Tân trọ ở hàng cơm đối diện ga Thanh Ba, một đêm không trăng nhưng rất nhiều sao dầy đặc cả trời. Giường nhà trọ nhiều rệp, chúng bò lên lưng lên cổ Tân; chàng luôn luôn lấy tay đập rồi kẹp giết từng con giữa ngón tay cái và ngón trỏ, nhưng hết con này đến con khác, đoàn quân đói máu đổ xung phong không ngớt, lại thêm không khí oi bức làm mồ hôi đổ ra như tắm, Tân đành vùng dậy ra ngoài, ngược đường đi lên chừng năm mươi thước rồi ưỡn ngực vươn tay làm động tác hô hấp. Chàng tin rằng hít được nhiều không khí trong sạch ban đêm có thể bù vào sức lực đã mất vì không ngủ được.

Có tiếng cười nói thanh thanh của đoàn con gái tắm đêm.

Tân ngồi xuống một phiến đá ngẳng nhìn về phía sau ga những hình đen nổi của đồi núi chập chừng. Phía trước ga mờ mờ bãi cát trắng thoai thoải đưa tới dòng song Hồng dạt dào tiếng sóng.

Những người con gái tắm đêm đã đi lên, tay cầm quần áo ướt. Giọng nói thanh thanh của họ ngừng khi họ nhận ra Tân ngồi đấy.

Tân lên tiếng hỏi rất tự nhiên:

- Các cô làm ở đâu mà ra sông tắm khuya thế?

Quả nhiên lời hỏi làm họ bớt ngỡ ngàng và tiếng trả lời của họ thân mật:

- Chúng em làm ở xưởng mật kia.

Rồi họ đi thẳng.

Chỉ dưới ánh sao thôi Tân cũng nhận thấy những khuôn mặt tròn đầy đặn với màu da bánh mật của họ.

Họ vừa tắm xong- Tân nghĩ thầm- chắc da thịt thơm mát lắm, họ đã mang lên một phần rất nhỏ cái thơm mát mênh mông của con sông đêm. Họ tiến về những lò quay mía làm mật có thấp thoáng ánh đèn. Tiếng chân vội vã của họ như làm rung chuyển những mạch đất nối liền với huyết quản Tân, khiến có cảm tưởng tim chàng rung động cùng một nhịp với bước chân xa dần của họ. Rồi ánh đèn những lò mía cũng tắt nốt. Quanh Tân chỉ còn tiếng thì thầm của hoa lá vạn vật, tiếng con sông va lầm phải vờ và tiếng những vì sao im lặng trao đổi những ý kiến bằng ánh sáng trên cao.

Vẫn ngồi nguyên trên phiếm đá vệ đường, Tân co chân và tì cằm lên đầu gối. Và trong trạng thái nửa ngủ chàng thả hồn quyện lấy hình ảnh người con gái có nước da trắng mát với điểm nốt ruồi đen trên gò má bên trái. Tân tưởng tượng thấy nàng lên theo đường hẻm xuống bãi cát thoai thoải, nàng cởi để quần áo trên bờ, khỏa thân xuống gặp dòng sông. Nước sông có ướp muôn thứ hoa rừng, mùi thơm tuy hoang dại ngây ngô nhưng cũng biết quấn lấy thân hình có nước da trắng mát kia, lưu luyến mãi trên đó, rồi thấm vào mạch máu hồng. Tân tưởng tượng thấy mình cũng lẻn theo xuống, cầm gọn quần áo của nàng- thứ quần áo bằng lụa bạch- trong hai bàn tay, quần áo vừa trút xuống còn ấm hơi da thịt người đẹp…

Hôm sau bán hết hàng ở Thanh Ba, Tân mang tiền ngược Yên Bái rồi tạm ngừng lại ở ga Phố Lu. Chàng trọ ở nhà một bà có máu đồng bóng, rất nhân đức nhưng nói quá nhiều. Con gái bà khuôn mặt thật xinh, nhưng bị sốt rét rừng kinh niên, có báng.

Ngày Tân ra chợ đón mua măng, mua mộc nhĩ; tối chàng đến sòng tài sửu xem tuồng và nghe tiếng “hối a… hối a…” của các cô sẩm trước khi mở bạc. Chàng khoác vai một cô bé giang hồ kém chàng chừng một hai tuổi dáng người nhỏ nhắn. Có khi hai đứa cùng đi trên đường, ‘‘rầy” hai tay dang ra cố giữ thăng bằng được một quãng dài, như trò xiếc đi trên giây, cho tới lúc mệt cùng đứng lại nhìn nhau cười ngặt nghẽo. Sự giao thiệp của Tân với cô gái giang hồ thoạt chỉ có thế.

Hôm cuối cùng, sau bữa cơm trưa Tân không nghĩ, người con gái giang hồ đến tìm chàng rồi cả hai đi về phía có đường sắt. Nhìn xuôi về Hà Nội, Tân nghĩ đến cô gái quí phái bận đồ lụa bạch ở ga Thanh Ba. Nhìn lên mạn ngược, chỗ con đường khuất nẻo chui vào rừng nứa, chàng liên tưởng đến nỗi niềm cần cù, cô độc và hiu quạnh trọn vẹn. Chợt có tiếng còi từ sau dãy núi đá vọng lại, rồi con tàu xuất hiện, men theo bờ sông tiến tới. Tân ôm người con gái giang hồ nép dưới gốc chuối rừng. Chàng ngẩng lên nhìn. Những khuôn mặt hành khách thoáng hiện trên từng toa tàu. Lẽ cố nhiên không có khuôn mặt mà chàng tương tư.

Tàu dừng lại ở ga này một chút, kế đó là tiếng còi thét lên nhắc nhở tiếng còi ở ga Thanh Ba. Tân nhớ lại cái nhìn của chàng gửi về phía người con gái quí phái một lần cuối cùng trước khi nhảy xuống.

Sau ba ngày, số măng, mộc nhỉ mua đã đủ Tân cho đóng bì để đợi chuyến tàu gởi trước về Hà Nội, còn chàng tiếp tục đi Lào Kay mua nấm hương. Buổi chiều khi việc đóng hành và gửi hàng đã xong, Tân thơ thẩn theo con đường đá nhỏ dẫn về một châu lỵ heo hút nào đó. Chàng đứng tựa vào một gốc cổ thụ lớn, gần chiếc cầu nhỏ bên trên lát những tấm tôn dầy. Một đồng bào thiểu số người Tây mặc áo chàm bạc màu dắt về một con ngựa thồ bé nhỏ trên mình chất đầy giỏ không (những lâm sản đã bán hết!) Ngựa cũng như người nhẫn nại bước trên đường hẻm, những hòn sỏi vô tri lăn theo bước chân của họ. Khi ngựa đi vào cầu, móng nó đập vào tấm tôn, tiếng tôn vang lên tuy rộn ràng mà buồn nản. Rừng núi chìm dần vào bóng chiều cho thêm phần bí hiểm. Sao bắt đầu mọc vô tư trên đỉnh trời. Lòng Tân như muốn vút lên để trùm tỏa lấy bóng con tàu xuôi hôm nào có mang người đẹp về Hà Nội.

Tiêng vó ngựa đập trên cầu tôn… tiếng sỏi lăn rào rạo xuống vệ đường còn vang vang trong hồn Tân. Con ngựa thồ bé nhỏ thường bị chất nặng đồ trên lưng (từng mảng da trầy thịt rớm máu tố cáo điều đó). “Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai.”- kiếp ngựa đó phải là ngựa thồ!

Khoảng lau già gần chỗ Tân đứng xào xạc dạt theo chiều gió thổi, Tân lơ đãng nhìn ra xa một chút, quanh chàng cây rừng như cố vươn lên tìm ánh sáng, thân cây nào cũng phủ đầy tầm gửi, cành cao gầy guộc nhưng những nhánh lá đầu cành rất mềm và rủ xuống như liễu khẽ đu đưa với gió chiều, thỉnh thoảng một chiếc lá úa bứt khỏi rụng chao chát. Có cành cao thật cao nở bong hoa đỏ, màu đỏ ngơ ngác. Không thấy bóng con chim nào, một con chuồn chuồn bay rập rình khi xa khi gần luôn luôn vô cớ đổi chiều.

Màn sương biêng biếc đã từ rừng núi tỏa ra lạnh buốc, thêm nhiều chấm sao lốm đốm trên nền trời đương ngả dần sang màu tím xẫm. Tân cúi đầu theo đường về thẫn thờ.

Tối hôm đó về khuya, Tân theo cô bé giang hồ vào phòng. Đó là lần đầu tiên Tân tới nhà đếm. Khi người con gái khỏa thân đến nằm bên chàng, Tân rùng mình nghe có tiếng nước sối mạnh bên ngoài, tiếng nước gợi lại hình ảnh tưởng tượng con sông đêm ở ga Thanh ba biết quấn lấy thân hình ngà ngọc của cô gái đẹp mát như lụa.

III

Suốt hai bên dọc đường xe hỏa Yên Bái Lào Kay thuần là rừng nứa và rừng chối, thứ chuối rừng có những bong hoa đỏ tươi như hoa se. Thỉnh thoảng con tàu băng qua chiếc cầu nhỏ bên dưới là dòng cuối vô danh đục ngầu đổ ra con sông xa. Tân tới Lào Kay khoảng tám giờ rưỡi tối. Trời mưa lớn, ánh đèn vàng khè và thưa thớt của Lào Kay càng trở nên hiu hắt. Lúc đó trời tạnh mưa, có lẽ đã tới mười giờ hơn, Tân dời khỏi nhà trọ đi trên con đường ướt bóng, vừa đi vừa cúi mặt xuống như muốn soi trên đó để tìm một khuôn mặt không phải gương mặt của chàng mà là của người con gái ga Thanh Ba.

Có ánh đèn khá tưng bừng bên con đường làm Lào Kay nổi tiếng với câu ca dao ( nếu có thể gọi được đó là ca dao):

Đi thời nhớ vợ cùng con,

Về thời nhớ bát cháo ngon trên đường.

Tân rẽ vào tiệm, lách tìm một chỗ ngồi giữa đám đông, phần lớn là những công chức bất đắt chí: người đương sì sụp húp cháo với một vẻ ngạo nghễ thây kệ việc đời, kẻ đã say lè nhè gọi thêm thức nhắm, yêu cầu nhiều thứ này ít thứ nọ.

Ra khỏi tiệm cháo, Tân về phòng trọ. Nhưng chàng không ngủ được, chẳng hiểu vì ý nghĩ luôn luôn bị ám ảnh bởi ‘‘người đẹp ga Thanh Ba” hay vì ngọn nguồn con song Hồng Hà nơi đây ào ào đổ thác lớn? Mười một giờ khuya chàng vùng dậy thơ thẩn dọc theo đường phố chính. Người đi thưa thớt, thường là từ sòng bạc ra về, hoặc từ nhà tới sòng bạc. Vô tình chàng tiến tới đầu cầu sang Cốc Lếu. Ánh đèn bên đó trông còn vàng khè hơn, ngái ngủ hơ bên Lào Kay.

Tân tặc lưỡi tiến vào cầu, tới quãng đường giữa chàng nhận thấy người lính gác đứng nép vào thanh sắt, chiếc áo choàng bị thổi rạt sang một bên vì luồng gió mạnh lạnh đẫm hơi đêm. Phố Cốc Lếu im lìm trong giấc ngủ hèn mọn, những căn nhà thấp và hẹp, cửa đóng kín mít. Tân tự hỏi thầm: ngộ người đẹp ga thanh Ba phải theo cha tới nhậm chức ở chốn này? Sắc nước hương trời đó mà bị chôn vùi nơi rừng thiêng nước độc này thực là cả một mối tiếc hận lớn cho trời và cho người. Ý nghĩ vẩn vơ đó còn ám ảnh Tân tới khi chàng trở sang đầu cầu bên kia rồi quay lại nhìn:

Ai mang tôi đến chốn này,

Bên kia Cốc Lếu, bên này Lào Kay.

Có lẽ đến hai giờ khuya Tân mới chợp ngủ, sáng sớm chàng bừng tỉnh dậy vì có tiếng xích loảng xoảng. Nghền cổ ngó qua cửa, Tân thấy một đoàn tù chừng hơn mười hai người, chân đeo xích, xếp thành hàng một, có ba người lính đeo tiểu liên đi kèm ở ba quãng: đầu giữa và cuối; cả người tù lẫn người coi tù đều như cảm chung một niềm tủi hổ. Tiếng xích vẩn loảng xoảng va đều xuống đường. Tân nhình theo, đôi mắt xa xôi, tự đặt mình là một trong số đó và hình ảnh đôi mắt người đẹp nhìn lại chàng khi đoàn tầu bắt đầu chuyển bánh rời ga Thanh Ba xuôi Hà Nội… Câu chuyện tình bỗng dưng nhuộm màu bi đát, Tân nằm xuống, lòng như thổn thức.

Trở về trung châu! Phải trở về trung châu! Tân vô cớ quyết định- rồi chàng ra ga lấy vé.

IV

Giời vừa chớm thu, gió mai xào xạc, nắng vàng hiu quạnh. Mùa thu đến thật đúng lúc để kịp khắc sâu những rung động của Tân về hình ảnh người đẹp ga Thanh Ba.

Chính những bất ngờ đó- thưa các bạn- sẽ làm nên định mệnh, cũng như bất ngờ Kim Trọng về Liêu Dương, bất ngờ tên bán tơ xưng xuất làm nên định nàng Kiều khổ, nhưng chính cái đau khổ làm nàng đẹp và chính vì nàng Kiều đẹp trong đau khổ nên đã làm đẹp lây bao nhiêu người đọc truyện nàng về sau. Có phải vì thế, Tân tự nhiên cũng thấy mình đẹp lên trong nỗi đau khổ này? Đau khổ thật chứ, tự nhiên gặp nhau rồi trong thoáng qua mỗi người một nghã, biết đâu mà tìm? Mà có gặp nhau đi nữa, thì một thiếu nữ quý phái như vậy làm sao chịu trao duyên với chàng trai nghèo sớm bỏ học đi buôn như Tân.

Tân ôn lại một trong những bài thơ chàng thích, bài “ Tình quê” của Hàn Mạc Tử, những vần thơ đó cũng đến bất ngờ để thêu dệt thêm đường nét não nùng cho mối tình. Cùng với tiếng chàng ngâm khẽ gió chợt lồng lộng quyện lấy lời thơ khiến ý thơ càng man mác chơi vơi.

Người con gái ngồi trên toa xe ở ga Thanh Ba chẳng thể hiểu được lòng chàng trai hai mươi kia muốn như thời gian rót đầy không gian để một phần hồn mình được gặp khoảng không gian nào đó có bóng người yêu:

Trước sân anh thơ thẩn

Đăm đăm trông nhạn về

Máy chiều còn phiêu bạt

Lang thang trên đồi quê

Gió chiều quên dừng lại

Dòng nước luôn trôi đi

Ngàn lau không tiếng nói,

Lòng anh dường đê mê

Cách nhau ngàn vạn dặm

Nhớ chi tới trăng thề?

Như có tiếng nhủ trong lòng: Tân muốn làm kẻ lữ hành cô độc trọn đời lang thang đi tìm người yêu mà vẫn thầm mong đừng bao giờ gặp:

Dù ai không ngóng đợi

Dù ai không lắng nghe

Tiếng buồn trong sương đục

Tiếng hờn sau lũy tre

Dù ai bên bờ liễu

Dù ai dưới cánh lê

Với ngày xanh hờ hững

Cố quên tình phu thê

Trong khi nhìn mây nước

Lòng xuân cũng não nề.

Cảnh nhà thanh bạch, việc học bỏ dỡ dang, mộng đời hầu như chưa thành hình đã lở dở, Tân với tất cả năng lực phồn thịnh của trí tưởng tượng trong tuổi hai mươi như tập trung lại mà kết tỉnh với giấc mộng vàng, đồng hóa với hình ảnh trong trắng của người con gái. Rồi như do một sức khích động thầm kín nhưng mãnh liệt Tân vùng vẫy chống lại hoàn cảnh, chàng lập tức cố sức thu xếp cuộc đời để bắt đầu nối lại việc học. Vẫn đi buôn, chàng không đi những chuyến lâu hàng tuần nữa mà chỉ đi vài ba ngày là cùng. Chàng thoạt mượn sách của bạn, rồi mua thêm sách ngoài, sau cùng, xin theo một lớp riêng học gấp học nhảy bực:- Không Tân không hề hy vọng thế. Tự lượng hoàn cảnh mình đã không thể cùng nàng kết tóc xe tơ thì một lần gặp là một lần hun đốt tam can. Không bao giờ gặp nữa, hình ảnh đẹp đó sẽ biến thành một giấc mơ; người ta có thể thổn thức trong một giấc mơ nhưng cõi lòng bớt bị nhói buốt. Tân chỉ thấy rằng cần tiếp tục học để vươn khỏi sự tranh tối tranh sáng của tri thức, nó làm cho chàng bực bội nhiều khi đến nghẹt thở.

Vừa một năm qua, ngày Tân đỗ thành chung cũng là ngày gia đình chàng hoàn toàn thoát khỏi cơn bần bách. Mẹ đã thu xếp được một cửa hàng ở phố chính tỉnh Bắc Ninh. Từ đấy Tân chuyên cần về việc học. Năm sau- 1945- năm có cuộc cách mạng tháng tám, chàng đỗ tú tài phần thứ nhất một cách tương đối nhẹ nhàng nhờ tình trạng chiến tranh các thí sinh được miễn thi vấn đáp.

Đã biết bao đêm hè trong sáng, gió nồm hây hẩy. Tân nhìn lên mặt trăng, có ôn lại hình ảnh người con gái trên toa xe ở ga Thanh Ba.

Đã bao nhiêu đêm thu trăng lạnh rờn rợn không gian, Tân thấy lòng mình trống trải mênh mang hồn như muốn mở rộng để chụp lấy hình ảnh người đẹp.

Đã có biết bao đêm đông, nghe tiếng mưa rơi gió lộng, hồn Tân tơi bời thiếp đi trong giấc mộng chung chăn với nàng.

V

Năm 1946. Tân đỗ xong tú tài phần hai rồi về Bắc Ninh thăm mẹ. Nhìn cửa hàng của mẹ khuếch trương đã khá lơn, xét đến nền học vấn của mình thoát cấp trung học, kể từ đấy mỗi khi nghĩ đến bóng lụa bạch năm nào Tân đã tự giải phóng khỏi mọi tự ti mặc cảm.

Chịu ảnh hưởng nếp tình cảm lãng mạng một thời vong quốc, Tân trìu mến lấy mối tình kỳ dị. Càng biết là không bao giờ còn gặp lại người đẹp nữa, hình ảnh giai nhân càng như loãng ra hòa vào máu để rồi vĩnh viễn luân lưu trong tâm tưởng cho đến ngày chàng lìa bỏ cuộc đời.

Nghỉ hè năm đó chàng cũng chỉ về Bắc Ninh với mẹ có một tuần rồi lại xuôi Hà Nội ngay để tiếp tục học đàn như năm ngoái.

Nguyên do năm ngoái sau khi đỗ tú tài phần một, Tân có theo một người bạn đồng khoa mua một chiếc vĩ cầm rồi theo học một danh sư người Nga lưu vong ở đường Gia Long gần khu hồ Thuyền Quang. Tâm trạng Tân khi đó y hệt tâm trạng một anh đánh bạc gặp vận đỏ đã vơ khá nhiều còn đánh thêm mấy tiếng lớn nữa cho càng nặng túi. Ừ, đã đỗ nữa tú tài lại học đàn nữa, mà học violin, thứ đàn khó nhất, hay nhất, tài hoa nhất! vì vậy nghỉ hè năm nay cũng như nghĩ hè năm ngoái Tân chỉ về thăm mẹ có một tuần rồi sao đó xuôi Hà Nội với tất cả vẻ vội vã của một nghệ sĩ hăm hở theo đuổi nghệ thuật đến cùng. Sự thực với tất cả các bạn, Tân đã tuyên bố thành thật là chỉ học cho biết qua” ngôn ngữ” thứ đàn ấy để có thể thưởng thức đứng đắn âm nhạc cổ điển Tây phương. Khi cuộc chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, Tân để đàn ở nhà, theo một số bạn thanh niên tình nguyện theo lớp huấn luyện cán bộ tăng gia sản xuất. Thanh niên các nơi đến họp từng đợt chừng bốn năm chục người tại một trụ sở tạm thời đặt ở một làng thuộc huyện Từ Sơn; sau đó họ đi chuyển tàu đêm ngược Phú Thọ để tới một đồn điền hẻo lánh kia, nơi được chọn làm đại điểm huấn luyện.

Chuyến tàu chở đoàn Tân tới ga Thanh Ba vào mười hai giờ khuya. Tân thò đầu ra ngoài khung cửa sổ ngẩng nhìn, đếm đó không trăng không sao, cả cũ trụ như chìm trong một nỗi niềm bí ẩn. Tàu chuyển bánh, gió phá vào mặt Tân trong khi chàng hơi mỉm cười, bang khuân ôn lại những hình ảnh cũ, hình ảnh người đẹp năm xưa, ngồi trong toa xe… hình ảnh con đường xuống sông thoai thoải cát trắng…hình ảnh những người con gái tắm đêm, hơi mát tự da thịt tỏa thắm vào hương đêm theo gió. Tân có cảm tưởng trên bước đường phiêu lưu kháng chiến, chàng sẽ gặp lại người xưa ở một khoảng rừng núi thâm u nào. Tới lúc đó, Tân mới nhận ra một điều là chàng không còn nhớ khuôn mặt người đẹp gặp ở Thanh Ba nữa. Sáu năm qua rồi còn gì… Giờ đây chàng chỉ còn nhờ cảm giác êm đềm mát rượi của màu quần áo lụa bạch phản ánh lên khuôn mặt nước da trắng mát có chấm nốt ruồi đen trên gò má bên trái. Tân tưởng nếu mình là nghệ sĩ, chàng sẽ xuống ven song lấy cát ẩm nặng một pho tượng có khuôn mặt đẹp; rồi khi đổ sáp lên chàng chỉ việc điểm thêm một chấm đen trên gò má bên trái, thế là bức tượng đã có thể tượng trưng cho mối tình thoáng qua nhưng lâu bền của chàng đối với bóng đẹp gặp thưở hai mươi. Tân nhớ mang máng một câu bằng tiếng Pháp:

Le plus beau refrain de la vie

C’est celui qu’on chante à vingt ans

(Điệp khúc đẹp nhất của cuộc đời

Là điệp khúc hát vào tuổi hai mươi).

Anh em trong toa xôn xao thức giấc vì sắp tới ga xuống. Mọi người đồng ca một bản hành khúc để thực tỉnh ngủ. Bản hành khúc đồng ca vừa dứt thì tiếng một anh bạn”

- Liệt đâu, cho nghe bài “Nguyễn Thái Học” mày!

- Đếch vào!- Liệt đáp gọn rồi giơ tay lên xoa cái đầu trọc lốc của mình nhìn Tân ngồi ngay bên, cười, cặp môi dầy của anh tòe rãn ra trong nửa hồn nhiên nửa thô bỉ. Tân cũng mỉm cười "đáp lễ” anh và nói:

- Anh cho nghe bài đó đi!

Liệt mới đến trụ sở tạm thời (ở Từ Sơn) sáng nay, anh đến cùng với anh bạn hoc thân tên là Khuê ( người vừa yêu cầu anh hát bản Nguyễn Thái Học). Thoạt trông thấy Liệt anh em ai cũng mĩm cười: đầu trọc tếu một cách khôi hài, khuôn mặt dài rất nhiều trứng cá, nước da mai mái hơi ngà sang vàng khè của những người bị sốt rét niên, đôi mắt khá sắc luôn luôn đưa đẩy để làm duyên cho nụ cười xòe nở trên cặp môi dầy. Mỗi khi nói với Khuê, những danh từ Liệt dùng nghe thật…mất dạy, nhưng khi nói với bất cứ anh em nào khác thì giọng nói cũng như tiếng dùng của anh lại rất lễ độ tuy vẫn còn đượm vẻ hề, thành thử Tân vẫn chưa hiểu Liệt thuộc thành phần nào của xã hội; dầu sao căn cứ vào cách cư xử trong một ngày vừa qua, toàn thể an hem có thể tin Liệt là một thanh niên dễ dãi có thể giào du được. Liệt chưa chánh thức hát cho anh em nghe bài nào, nhưng qua một vài câu anh hát đón theo giọng của vài anh em khác thì chắc chắn giọng anh phải hay lắm…

Khuê lại cất tiếng giục:

- Ê, Liệt hát đi mày!

Tân ngồi bên cũng giục thêm một câu;

- Anh cho chúng tôi nghe một bài đi, mười phút nữa đã xuống ga rồi.

Liệt ý chừng nể lời Tân hơn bèn đứng dậy dặng hắng. Anh em yên lặng chờ nghe.

“Nguyễn Thái Học” là một bài ca buồn thảm do một nhạc sĩ vô danh sáng tác, lời ca như thể một bài ai điếu của một đồng chí nào đó đã thoát chết từ vụ 1930 còn sống sót đến ngày nay, rồi nhân dịp nước nhà vừa dành lại chủ quyền, tưởng nhớ lại người bạn liệt sĩ cũ và cất lời than khóc. Giọng Liệt rất trầm, ấm dịu nên đã gợi được hết tình ý buồn thảm của lời ca, hơn nữa Liệt hát với tất cả sự say mê của một nghệ sĩ phụng sự nghệ thuật, vẻ hề của anh biến hẳn không để lại một vết tích nhỏ, dưới ánh điện yếu ớt của toa tàu khuôn mặt Liệt lúc biễu diễn bài ca càng thêm vàng vọt và như hơi co dúm lại trong một niềm thống khổ trang nghiêm.

Lời ca dứt, tiếng vỗ tay tán thưởng nhiệt tình, Liệt đưa tay lên xoa đầu trọc nhìn Tân mỉm cười, đôi môi đầy tòe dãn lập tức anh trở lại vẻ hề quen thuộc hầu như thường xuyên của anh.

Tầu từ từ dừng lại… Đã tới ga Ấm Thượng. Đoàn thanh niên xuống toa rồi theo ánh đuốc ra khỏi ga, rẽ vào một đường mòn, qua một chiếc cầu treo nhỏ đu đưa như võng, vòng vèo quanh những sườn đồi, bì bõm lội qua những con suối nhỏ… Có lẽ tới một giờ sau mới tới cứ sở. Nơi ăn chốn nằm đã được những toán tới trước thu xếp sẵn, mọi người chỉ còn việc mắc màn rồi nằm lăn quay ra ngủ mê mệt.

Có người con gái khuôn mặt trắng mát tiến đến với Tân. Không rõ ràng cười trước hay Tân cười trước. Gặp nhau sao mà buồn! Nàng nói: “ Em mười bẩy, em chỉ sống đến năm hai mươi.” Tân cũng biểu đồng tình:-“ Em nói đúng! Một người con gái đẹp chẳng nên sống quá tuổi đó, em cho anh xin khoảng thời gian ngắn còn lại của em/!”

Tân sực tỉnh, xung quanh là bóng tối đen đặc và lạnh buốt: chàng vừa chợp ngủ! Bên cạnh có tiếng ngáy, xa hơn, phía cuối phòng có tiếng cựa mình. Tân kéo tấm mền phủ kín tai cho ấm những mong nối kịp giấc mơ. Nhưng- Tân biết trước là không bao giờ, không bao giờ nữa, chàng có thể tìm lại được giấc mơ đẹp và mong manh như nắng chiều đó.

VI

Gió rít từng hồi tự trên đỉnh đồi cao lùa xuống các thung lũng nhỏ, khiến những chiếc lá vàng đua nhau rụng và những chiếc lá khô dưới đất tựa hồ những hồn ma bị dựng dậy đuổi nhau tít tít quanh các gốc cây. Tiếng gió và tiếng khô càng thêm bí ẩn khi bóng chiều đã hoàn toàn phũ kín miền đồi núi khu đồn điền Lợi Ký này.

Đồn điền Lợi Ký gồm hàng ngàn mẫu đồi chè, không kể những nương sắn cùng những khoảng thung lũng khá rộng có ruộng lúa. Tân thuộc toán cuối cùng tới đây. Sau ba ngày tận lực làm việc để thu xếp nơi ăn chốn nằm cho có quy củ, hơn hai trăm nam nữ thanh niên có mặt lúc đó vừa hay tin chương trình huấn luyện bắt đầu từ hôm sau.

Về tổ chức nội bộ, ban giám đốc chia họ thành từng trung đội, mỗi trung đội trên dưới ba mươi người, thay phiên nhau phục dịch bếp nước.

Thời khóa biểu được ấn định như sau: sáu giờ sáng có hồi kèn đánh thức, từng toán, tùy nơi mình ở, đưa nhau đến khúc suối gần nhất- khoảng từ một đến hai trăm thước xa- đánh răng rửa mặt. Sáu giờ rưỡi tập họp tại sân chính, chào cờ, nhận huấn thị của ban giám đốc. Bảy giờ ăn sáng- sắn luộc là món ăn duy nhất rồi sau đó hoặc công tác kiếm củi hoặc vào lớp học lý thuyết, hoặc lên đồi vỡ nương tăng gia thực hành.

Tuy mới đến đây được ba ngày, Tân cũng như các anh em khác đã biết qua lý lịch đồn điển Lợi Ký. Đồn điền này cha truyền con nối đã được ba đời. Thoạt là cụ đề Kình vì "có công” đi dẹp cuộc khởi nghĩa Yên Thế nên được chính phủ Pháp cho phép khai phá vùng này lập đồn điền, số ruộng khai phá hằng năm sản xuất đủ thóc cho hành huyện chính là công cụ đề Kình, đời thứ nhất.

Đời thứ hai: ông phán Nghị. Ông Nghị sinh trưởng tại Hà Nội theo học đủ bốn năm bậc thành cung ở trường Bưởi. Đỗ xong, ông được vào một chân thư ký tòa Sứ. Họ hàng bè bạn gọi ông là ông phán từ đấy. Ông bà phán Nghị vẫn có một cửa hàng hiệu bán vải rất sầm uất ở phố hàng cải thâm. Khoảng năm 1943, ông bà tậu thêm một dinh cơ khá lớn ở làng Định Quyết và nhập tịch làng đó, cách Hà Nội chừng năm cây số về phía đường xe điện Kim Liên. Vào dịp nghỉ lễ, nghỉ tết Nguyên Đán, nghĩ hè ông bà cùng các con về làng hưởng gió đồng. Tuy đi làm nhưng ông vẫn gián tiếp điều khiển công việc tại đồn điền. Cho đến 1945, sau cuộc đảo chính Nhật, ông xin thôi, lên ở hẳn chốn hẻo lánh này trực tiếp khuếch trương đồn điền. Các đồi chè đã xah lá, ông cho xây cất xưởng làm chè các chợ miền xuôi bán. Ngoài ra ông còn cho giống thử hai mẫu cam quanh nhà, lấy giống tận Bồ Hạ( Bắc Giang). Ông và bà thay phiên nhau đi đi về về, lẽ cố nhiên vào những ngày giỗ và tết nhất, cả hai ông bà đều có mặt ở làng Định Quyết.

Hãng, đứa con trai đầu lòng, được ông cho sang Pháp học từ năm mười lăm, năm mười chín Hãng đỗ xong tú tài. Thời nay Âu Châu chinh chiến, hai năm qua đi Hãng không đỗ thêm một chứng chỉ đại học nào, nhận thấy đại chiến đã sang thời tàn cục, tầu bè đi lại bớt nguy hiểm ông Phán bèn gọi Hãng về nuớc và sang hẳn tên đồn điền cho Hãng, đời thứ ba. Đó là vào năm 1944.

Nhưng Hãng chẳng phải làm gì cả! Biết tâm lý con mới ở Pháp về không thể ở chốn đèo heo hút gió, ông xếp nhiệm vụ cho Hãng tại ngay Hà Nội, vừa trông nom lũ em ăn học, vừa đợi từng chuyến trà về điều khiển việc phân phát tới các mối hàng rồi thu tiềng. Hãng còn ghi tên học Luật, cuối năm đó anh thi đỗ đầu chứng chỉ năm đầu. Nói là Hãng có nhiệm vụ trong nom lũ em ăn học kỳ thực chính Vân- cô em gái lớn của Hãng- đảm đang việc đó, trong khi bà Phán đi đi lại lại như thoi để liên lạc giữa đồn điền với Hà Nội. Ở hoàn cảnh như vậy, Hãng đã khét tiếng là một sinh viên Luật học phá gia chi tử tưởng không lấy làm lạ, tuy nhiên khoảng mấy năm liền này tiền của vào nhà ông Phan như nước nên Hãng tha hồ vung tay ném tiền qua cửa sổ cũng chẳng thấm thía vào đâu.

Năm Hãng về nước- 1944- Vân vừa mười tám tuổi kém anh năm tuổi và đang theo học năm thứ ba ban trung học Pháp tại trường nữ Félix Faure. Vì học trường đầm nhiều năm nên Vân không bỡ ngỡ trước những cử chỉ đôi khi quá phóng khoáng của anh, nhất là đối với phái đẹp.

Vân có cô bạn chí thân tên là Quỳnh Hương nhà nghèo, gia cảnh gặp nhiều ngang trái phải bỏ học từ năm trước. Vân thương Quỳnh lắm, chính Hãng cũng thông cảm tình cảnh của Quỳnh Hương coi như em gái và tận tình giúp đỡ nàng một cách trong sạch hoàn toàn, không vụ lợi. ( Sau đây chúng ta còn dịp gặp lại Quỳnh Hương).

Dưới Vân là Thi, em gái thứ hai của Hãng, năm đó mười bốn tuổi. Thi theo học ở trường Đồng Khánh, năm thứ nhất ban Thành chung.

Mới năm trước Vân thương Quỳnh Hương phải bỏ học, sang năm sau Vân không ngờ chính nàng cũn rơi vào hoàn cảnh bắt buộc bỏ học. Bà Phán lên đồn điền để lại cửa hàng vải cho nàng, rồi phi cơ Đồng minh hoạt động dữ, Hà Nội báo động đêm báo động ngày, các trường tư di chuyển ra ngoại ô hay vào Hà Đông, các trường công đi xa hẳn, trường Albert Sarraut vào tân Sầm Sơn (Thanh Hóa), trường Félix Faure lên Tam Đảo và trường Đồng Khánh xuống Hưng Yên. Thi theo trường đi đi Hưng Yên, ghi tên vào ký túc xá. Thế là Vân đành phải bỏ học ở lại Hà Nội để tiếp tục trông nom cửa hàng vải cho mẹ đồng thời giúp anh cáng đáng mọi công việc quen thuộc: phân phát từng chuyến trà tới các mối hàng rồi thu tiền.

Bà Phán có người em gái góa chồng buôn bán ở Hải Phòng. Không may bà em này chết trong một chuyến oanh tạc của phi cơ Đồng minh để lại ba đứa con giai: Cung, mười hai tuổi vừa đỗ xong bằng cơ thủy nhưng thi vào trường Bưởi trượt phải học tư; tiên mười tuổi, Cận tám tuổi đều còn ở bực tiểu học. Bà Phàn mang cả ba cháu về nuôi coi như chính con đẻ của mình.

Khi cuộc kháng Pháp sắp bùn nổ, ông bà Phán thu xếp cho cả ba con Hãng, Vân, Thi và lũ cháu Cung, Tiến, Cận lên đồn điền; định cư tại làng Định Quyết ông bà nhờ người hàng xóm trông nom giúp. Hãng buộc lòng phải về đồn điền nhưng ở đây anh cũng chẳng làm gì mấy ngoài việc thỉnh thoảng tổ chức buổi đi săn đêm tiêu khiển. Rồi kháng chiến toàn quốc… rồi toán thanh niên đầu tiên tới… Hãng càng năng tổ chức đi săn đêm. Mới mười ngày qua mà đã ba lần anh em được ăn thịt thú săn của Hãng: lần thứ nhất mấy con chồn; lần thứ hai con lợn rừng; lần thứ ba con hươu.

Uỷ ban trung ương tản cư di cư chọn đồn điền Lợi Ký làm địa điểm huấn luyện không phải là không có lý do. Thứ nhất: đồn điền này xa đường thủy, xa đường bộ, xa đường xe lửa, không lo lộ mục tiêu phi cơ địch tới oanh tạc. Thứ hai: chính tại đồn điền, cùng những vùng lân cận phía ven song Nhị Hà còn rất nhiều đất tốt bỏ hoang, khi lớp huấn luyện bế mạc vùng này có thể tiếp nhận trên dưới một vạn đồng bào di cư tới lập nghiệp.

Và như chúng ta đã biết, trong vòng mười ngày các toán nam nữ thanh niên đã tới đủ, lớp huấn luyện sửa soạn khai mạc vào ngày hôm sau.

VII

Chương trình huấn luyện gồm hai đề mục chính: Trồng tỉa và chăn nuôi. Ngoài ra còn những đề mục phụ như phương pháp tổ chức đồng bào tại nơi định cư, phương pháp ngừa bệnh, nhất là bệnh sốt rét rừng,… Đây là một chương trình huấn luyện cấp tốc, trước dự định trong hai mươi lắm ngày phải xong, nay đã mười lăm ngày qua mà chương trình mới hết một phần ba, trong thấy trước phải ít ra một tháng nữa mới tới ngày bế mạc, nghĩa là các học viên phải đón xuân kháng chiến đầu tiên- xuân Đinh Hợi- ngay tại đồn điền Lợi Ký.

Thành phần trại huấn luyện khá phức tạp. Ban giám đốc gồm: một anh đội trưởng hướng đạo, một anh sinh viên kiến trúc và một anh chưa học hết lớp nhất nhưng tham gia cách mạng từ thời bí mật. Ban giảng viên gồm những nhà chuyên môn trong số có một người mới ở Tàu về. Còn các trugn đội học viên bên dưới thì sinh viên thú y có, sinh viên luật khoa có, công chức có, nông dân có, công nhân có… Đặc biệt có cặp tình nhân: chàng, vóc người cao gầy, nước da trắng xanh, mái tóc đen dài gợn sóng, dáng đi bao giờ cũng có một vẻ uể oải rất… tỉnh thành, hình như chàng là kịch sĩ thì phải; Nàng cũng cao, người thon, tóc uốn, khuôn mặt trái soan, đôi mắt đẽn thông minh một cách kiêu kỳ, dáng đi mệt nhọc một cách tình tứ, hình như nàng là vũ nữ thì phải. Lẽ cố nhiên ban đêm nàng ngủ ở khu nữ giới, nhưng sáng sớm, trên con đường ra suối rửa mặt, họ âu yếm sát vai nhau, tay trong tay hoặc quàng lưng. Giờ nghỉ họ đưa nhau đi tha thẩn trên đồi chè, lúc đó họ như hai hành tinh sinh đôi chung một vòm không khí, chung một quỹ đạo. Tất cả mấy trăm anh chị em học viên khác không coi đó là một điều chướng mắt, trái lại ai nấy có thái độ bao dung tựa hồ các anh chị làm ăn căn cơ ở quê nhà nhìn vẻ ngộ nghĩnh tây tày của vợ chồng thằng chú em mới ở tỉnh chạy loạn về. Các cán bộ thì nhìn họ bằng đôi mắt tin tưởng kiêu hãnh vì họ nghĩ rằng cóc hạng người càng phức tạp, uy tính của cách mạng càng lớn mạnh khi uốn nắn được họ vào con đường hy sinh gương mẫu.

Riêng Tân, chàng không chú ý đến cặp tình nhân đó, chàng đặc biệt chú ý đến hai cô gái lớn con ông bà chủ, mặc dầu rất ít khi hai cô qua lại những chốn đông người tụ tập. Những ngày đầu sống tại đồn điền, lần thứ nhất Tân bất chợt thấy hai cô trong một khung cảnh thừa đủ gây thành một ấn tượng lâu bền. Buổi chiều đó mặt trời đã gần chấm đỉnh núi phía tây, ánh sáng hiu hắt một ngày đông tàn tạ chẳng còn thể phấn đấu nổi với hơi lạnh từ thung lũng dâng lên và tiếng gió âm thầm qua những cành khô như tiếng thở dài tuyệt vọng của một tình nhân bên giường bệnh một tình nhân. Trên chiếc ghế xích đu, bên cạnh cửa sổ trông về phía bếp- tiểu đội Tân khi đó đang phụ trách công việc bếp nước- dáng một cô gái bận đồ lụa bạch với chiếc áo len ngoài cùng ăn sát vào thân hình chắc lẳn, cố quàng khăn san màu tím hoa cà: nàng đương cắm cúi khâu vá. Rồi cô em từ phòng trong chạy tới, dáng mảnh khảnh hơn, bận đồ tương tự, duy áo len mặc ngoài màu hồng và khăn quàng len màu vàng; nàng cầm quyển sách ở tay nhưng không đọc, luôn luôn cúi xuống bàn bạc với chị điều gì, dáng điệu vô cùng thùy mị. Cả hai cùng có suối tóc tơ óng đẹp rủ xuống vai.

Buổi tối ánh sáng ngọn măng- song 120 nên ở phòng khách như thừa sinh lực tràn thoát ra các ngả cửa sổ thành những phiến ánh sáng trắng xanh in hẳn lên những luống hoa dài chạy viền quanh nhà. Lũ trẻ nhỏ đã đi ngủ. Thấp thoáng bóng cao gầy của ông bà Phán, bóng vạm vỡ của Hãng, hai bóng đẹp dịu dàng và bóng mấy người trong ban giám đốc ở nhà bên sang thăm xã giao. Có tiếng vĩ cầm khá điêu luyện. A! Đó là tiếng đàn của anh chàng sinh viên kiến trúc trong ban giám đốc. ( Tân cũng không hiểu sao anh chàng sinh viên nghệ sĩ đó lại là thành phần của ban giám đốc). Rồi tối hôm sau vẫn những phiến ánh sáng đó vẫn những bóng người đó và tiếng đàn. Có một lần vô tình Tân theo bậc gạch lên sân, chàng vội vã đi lướt qua thềm, khuôn mặt lanh lợi với ánh mắt khỏe mạnh của cô chị có nhìn ra.

Nhiều hôm mưa rơi từ chiều dai dẳng, những bước chân đi ướt làm nặng chĩu tâm hồn, rồi bóng tối mênh mông câm lặng rủ xuống xóa nhòa ý niệm thời gian trong trí Tân…Rồi ánh đèn bừng sáng… Tân lắng nghe tiếng đàn từ phòng khách vẳng xuống qua màn nước mưa…

Hẳn anh chàng sinh viên kiến trúc muốn tỏ mình là một nhạc sĩ bách công vì anh chàng đánh đủ cái loại bài, từ một vài đường nhạc cực kỳ lắt léo và phong phú chắc là trích ở một concerto nào, qua những bản cổ điển nhỏ, tới những bài Việt phổ thong như: Con Thuyền Không Bến, Cô Hái Hoa, Suối Mơ… Tất cả những bài đó anh chàng đều đánh thuộc lòng và- điều này mới đáng quí- kể cả những bài bình thường nhất dưới ngón tay tài hoa của anh chàng cũng đượm một sức quyến rũ đặc biệt y như những cô gái vừa đến tuổi dậy thì mỗi người một vẻ.

Thế nào anh chàng chẳng mê một trong hai cô- Tân nghĩ thầm thế- và thế nào tiếng đàn của anh chàng gây bang khuâng xao xuyến trong lòng ai rồi. Đã hơn một lần vừa nghe tiếng đàn vừa trạnh thương cho mối tình vô vọng đến phi lý của mình, Tân thầm ước cho đôi trẻ trên kia sớm thành đôi lứa.

VIII

Thấm thoát chương trình huấn luyện tại đồn điền Lợi Ký đã được dư ba tuần lễ, tới ngày ba mươi tết công việc tạm ngừng. Những học viên nào có gia đình gần vùng này đều lên xin ban giám đốc cho phép về. Còn những người ở lại ai nấy như cố tránh nhắc nhở đến việc đón xuân, trừ việc ban giám đốc báo trước sẽ tổ chức lửa trại vào đêm mồng bốn tết. Không nhắc đến là phải! Còn lòng dạ nào mà đón xuân? Ở đâu tuy xa tiếng súng nhưng tin tức tới đều và nhanh. Trung đoàn thủ đô vẫn bị vây hãm tại khu hàng Bạc, hàng Chiếu, Ngõ Gạch, Đồng Xuân… Các mặt trận ngoại ô đã lần lượt bị vỡ, phi cơ địch càng được thế tung hoành oanh tạc để mở rộng đường tiến quân của chúng. Đó là hiện trạng bi đát của cả dân tộc. Đến tâm trạng riêng tư từng ở lại đồn điền Lợi


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 18 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Xuyên không] Phù Dao hoàng hậu - Thiên Hạ Quy Nguyên (Trọn Bộ 6 tập)

1 ... 112, 113, 114

2 • [Hiện đại] Hôn nhân giá ngàn vàng - Cẩm Tố Lưu Niên (101/104]

1 ... 173, 174, 175

3 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 244, 245, 246

4 • [Hiện đại] Cưng chiều em nhất - Tĩnh Phi Tuyết

1 ... 29, 30, 31

[Cổ đại - Trùng sinh] Trọng sinh cao môn đích nữ - Tần Giản

1 ... 137, 138, 139

6 • [Cổ đại - Trùng sinh] Dược hương trùng sinh - Hi Hành

1 ... 90, 91, 92

7 • [Xuyên không - Cung đấu] Thế nào là hiền thê - Nguyệt Hạ Điệp Ảnh

1 ... 42, 43, 44

8 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 113, 114, 115

9 • [Hiện đại] Mưu đồ làm loạn - Thanh Thụ A Phúc

1 ... 23, 24, 25

10 • [Cổ đại] Ác phu cường sủng thê - Văn Hội

1 ... 57, 58, 59

11 • [Hiện đại] Nhìn người không thể nhìn bề ngoài - Nguyệt Hạ Điệp Ảnh

1 ... 36, 37, 38

12 • [Xuyên không] Thú phi thiên hạ Thần y đại tiểu thư - Ngư Tiểu Đồng

1 ... 78, 79, 80

13 • [Hiện đại - Trùng sinh] Nữ phụ báo thù - Phong Tuyết Phiêu Nhứ

1 ... 27, 28, 29

14 • [Xuyên không] Sủng thần của đế vương - Hoa Vũ Băng Lan

1 ... 46, 47, 48

15 • [Cổ đại] Mỹ nhân như họa - Túc Mễ Xác

1 ... 33, 34, 35

16 • [Hiện đại] Theo đuổi nam thần - Thiên Phàm Quá Tẫn

1 ... 19, 20, 21

[Hiện đại] Chinh phục trợ lí nhỏ - Dịch Tử Hiên

1 ... 17, 18, 19

18 • [Hiện đại] Một tòa thành đang chờ anh - Cửu Nguyệt Hi

1 ... 22, 23, 24

19 • [Hiện đại] Cưới lâu sẽ hợp - Minh Khai Dạ Hợp

1 ... 17, 18, 19

20 • [Hiện đại] Tử Thời - Sói Xám Mọc Cánh

1 ... 35, 36, 37


Thành viên nổi bật 
Đường Thất Công Tử
Đường Thất Công Tử
Eun
Eun
Nminhngoc1012
Nminhngoc1012

Shop - Đấu giá: The Wolf vừa đặt giá 450 điểm để mua Người đẹp và mô tô
Windwanderer: thật ra thấy nó ngọt =.=
Windwanderer: từ lâu tớ luôn thích giọng con gái Huế
cò lười: Giọng con gái Huế rất chi là nhẹ nhàng
Shop - Đấu giá: Windwanderer vừa đặt giá 500 điểm để mua Bông tuyết
Shop - Đấu giá: Windwanderer vừa đặt giá 360 điểm để mua Cỏ ba lá
Windwanderer: tnn toàn báo tin đặt giá mua đồ
Windwanderer: không biết giọng con gái Huế ra sao nhỉ =.=
Windwanderer: năm nay thi miss có ng ở Huế
Nhị Thiếu: có ai ko ạ
Shop - Đấu giá: canutcanit vừa đặt giá 250 điểm để mua Quạt điện đỏ
Shop - Đấu giá: canutcanit vừa đặt giá 427 điểm để mua Người đẹp và mô tô
Shop - Đấu giá: canutcanit vừa đặt giá 279 điểm để mua Bút chì
Mía Lao: viewtopic.php?t=406446 bạn vào đây post 1c rồi đợi mod liên lạc :))
Nhị Thiếu: tiền bối nào giúp em đăng truyện với ạ xin hậu tạ
Nhị Thiếu: ad ơi có thể hổ trợ em viết và đăng truyện được không em viết cũng kha khá mà không biết cách đăng
Yajonglee: Q
Đường Thất Công Tử: Re: [Trắc Nghiệm] Bạn Có Phải Là Dĩnh Hỏa Trùng Chính Hiệu
Shop - Đấu giá: The Wolf vừa đặt giá 405 điểm để mua Người đẹp và mô tô
Mía Lao: Hi
Ly Mộng: :wave2: muốn tám quá, ko biết d đ có ai onl để làm quen nói chuyện ko   :think: :sweat:
LogOut Bomb: ღsoixam࿐ -> ღsoixam࿐
Lý do: Tự sát
Shop - Đấu giá: Tử Tranh vừa đặt giá 264 điểm để mua Bút chì
Shop - Đấu giá: Minh Huyền Phong vừa đặt giá 384 điểm để mua Người đẹp và mô tô
Shop - Đấu giá: Minh Huyền Phong vừa đặt giá 454 điểm để mua Bông tuyết
Shop - Đấu giá: The Wolf vừa đặt giá 364 điểm để mua Người đẹp và mô tô
Shop - Đấu giá: The Wolf vừa đặt giá 392 điểm để mua Thỏ đánh đàn
Shop - Đấu giá: Minh Huyền Phong vừa đặt giá 345 điểm để mua Người đẹp và mô tô
Shop - Đấu giá: canutcanit vừa đặt giá 250 điểm để mua Bút chì
Shop - Đấu giá: canutcanit vừa đặt giá 372 điểm để mua Thỏ đánh đàn

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.